A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nghị quyết số 23-NQ/TW: Tạo ra những cơ chế thực chất để cộng đồng phát huy vai trò chủ thể, trở thành nguồn lực chiến lược

Khẳng định, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy đối với cộng đồng kiều bào trong giai đoạn mới, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, Việt kiều tại Pháp kỳ vọng Nghị quyết sớm được cụ thể hóa thành những cơ chế có thể nhìn thấy, tiếp cận và sử dụng được trong thực tế.

Từ góc nhìn của một người nhiều năm sinh sống, nghiên cứu văn hóa và trực tiếp tham gia hoạt động cộng đồng tại Pháp, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà cho rằng, một trong những điểm đáng chú ý nhất của Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết 23) là sự chuyển biến trong cách nhìn nhận vị trí của kiều bào.

Theo đó, người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ tiếp tục được khẳng định là “bộ phận không tách rời” của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mà còn được xác định là một nguồn lực chiến lược quan trọng, một cầu nối vững chắc giữa Việt Nam với thế giới. Đối với bà con xa Tổ quốc, điều được kỳ vọng không chỉ là sự khẳng định về vị trí và tình cảm, mà quan trọng hơn là những quan điểm mới ấy sẽ được cụ thể hóa như thế nào để cộng đồng thực sự có thể đồng hành, tham gia và đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

Từ “vận động, tập hợp, chăm lo” đến “đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực”

Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà nhận định, sau hơn hai thập niên kể từ Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã có nhiều thay đổi sâu sắc về quy mô, cơ cấu thế hệ, trình độ, vị thế trong xã hội sở tại cũng như phương thức gắn bó và đóng góp với quê hương.

Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, một trong những điểm mới có ý nghĩa nhất của Nghị quyết 23 là yêu cầu nâng tầm tư duy trong công tác kiều bào từ “vận động, tập hợp, chăm lo” sang “đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực”. Sự thay đổi này không đơn thuần là sự điều chỉnh về cách diễn đạt, mà phản ánh một cách tiếp cận chủ động và toàn diện hơn. “Đồng hành” có nghĩa là mối quan hệ giữa đất nước với kiều bào ngày càng cần mang tính hai chiều, trong đó kiều bào không chỉ là đối tượng được vận động hướng về quê hương mà còn là những chủ thể có kinh nghiệm, tri thức, mạng lưới và sáng kiến cần được lắng nghe.

Bên cạnh đó, “kiến tạo cơ chế” đặt ra một yêu cầu cao hơn bởi nếu coi người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực chiến lược, chúng ta cần tạo ra những con đường thực tế để nguồn lực ấy được phát huy tối đa.

Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, một nhà khoa học muốn hợp tác với Việt Nam cần biết mình có thể kết nối với đâu, một chuyên gia muốn chuyển giao kinh nghiệm cần có một đầu mối phù hợp, một doanh nhân muốn đầu tư cần một môi trường minh bạch, thuận lợi, trong khi một nghệ sĩ, nhà nghiên cứu hay hội đoàn muốn triển khai một dự án văn hóa cũng cần biết sáng kiến của mình có thể được tiếp nhận và hỗ trợ như thế nào. Vì vậy, bên cạnh câu hỏi quen thuộc là kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém rằng đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình.

Một điểm khác của Nghị quyết 23 mà Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà đặc biệt đánh giá cao là tinh thần trân trọng, cầu thị và lắng nghe các ý kiến đóng góp, đề cao hòa hợp dân tộc và hướng tới tương lai. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà cho rằng, hơn 6,5 triệu người Việt sinh sống ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ không phải là một khối đồng nhất, bao gồm những người đã định cư qua nhiều thế hệ, những người ra nước ngoài học tập, lao động rồi ở lại, các chuyên gia, trí thức, doanh nhân, các gia đình đa văn hóa và ngày càng nhiều người trẻ sinh ra tại nước ngoài. Chính vì sự đa dạng đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài kỳ vọng việc triển khai Nghị quyết sẽ tiếp tục tạo ra một không gian rộng mở hơn để những tiếng nói khác nhau trong cộng đồng được lắng nghe trên cơ sở cùng hướng đến lợi ích chung của đất nước và dân tộc.

hoangha5.jpg
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà tại buổi giới thiệu quảng bá văn hóa Việt Nam với chủ đề "Sắc Then Việt Bắc - Hành trình lan tỏa di sản" tại Pháp.
Ảnh do nhân vật cung cấp
 

Từ thực tế sinh sống tại Pháp, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà cho rằng, đây là một nhu cầu rất rõ nét bởi những người trực tiếp bám sát địa bàn hiểu rất rõ cộng đồng của mình, hiểu xã hội sở tại, hiểu những khó khăn trong tiến trình hội nhập cũng như những cơ hội để kết nối Việt Nam với bạn bè quốc tế. Bởi vậy, bên cạnh các chính sách chung, cần có những cơ chế thường xuyên để tiếp nhận phản hồi từ cộng đồng, từ các hội đoàn, trí thức, doanh nhân, người trẻ và những cá nhân đang trực tiếp làm công tác kết nối.

“Cộng đồng người Việt Nam tại nước ngoài nói chung và ở Pháp nói riêng kỳ vọng, những định hướng của Nghị quyết sẽ được cụ thể hóa thành những chính sách minh bạch, ổn định, thuận tiện, dễ tiếp cận, qua đó giảm bớt những rào cản không cần thiết và tạo ra các đầu mối kết nối rõ ràng. Điều cộng đồng cần không nhất thiết là Nhà nước làm thay, mà quan trọng hơn là tạo động lực và điều kiện để cộng đồng có thể chủ động làm tốt những việc mà họ có thế mạnh”, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà chia sẻ.

Văn hóa - cầu nối quan trọng mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà khẳng định, ngoài lĩnh vực kinh tế-đầu tư, khoa học-công nghệ, trí thức, văn hóa là nguồn lực quan trọng đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Người Việt Nam ở nước ngoài giữ một vị trí đặc biệt bởi họ đồng thời hiện diện trong hai không gian văn hóa, vừa có mối liên hệ máu thịt với quê hương, vừa thấu hiểu ngôn ngữ, văn hóa và phương thức tiếp nhận của xã hội nơi mình đang sinh sống. Chính vị trí ấy giúp kiều bào không chỉ mang văn hóa Việt Nam ra thế giới mà còn có khả năng diễn giải văn hóa Việt Nam theo cách mà công chúng sở tại có thể dễ dàng thấu hiểu và đồng cảm.

" Giá trị lâu dài của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài sẽ nằm ở khả năng chuyển hóa những tư duy mới thành những đổi thay cụ thể trong đời sống của cộng đồng. Kiều bào hướng về quê hương bằng muôn vàn con đường khác nhau, từ đầu tư, khoa học-công nghệ, mạng lưới quốc tế, nghệ thuật, giáo dục cho đến những gia đình đang âm thầm gìn giữ tiếng Việt và tình yêu đất nước cho con cháu mỗi ngày. Tất cả những dòng chảy ấy đều là nguồn lực quý giá của quốc gia.

Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà

Từ chuyên môn nghiên cứu và kinh nghiệm tham gia các hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam tại Pháp, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà rất quan tâm đến nội dung của Nghị quyết 23 về việc phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài trong việc gìn giữ tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương, đặc biệt là khái niệm “đại sứ văn hóa” hay “đại sứ hữu nghị”.

Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, đại sứ văn hóa không nhất thiết phải là một danh hiệu chính thức mà trước hết là một vai trò thiết thực trong đời sống. Một nghệ nhân mang di sản của cộng đồng giới thiệu với công chúng quốc tế, một nhà nghiên cứu giúp người nước ngoài hiểu sâu hơn về đất nước, một nghệ sĩ sử dụng chất liệu Việt Nam trong sáng tạo đương đại, một hội đoàn tổ chức chương trình Tết chất lượng hay một người trẻ giới thiệu về quê hương với bạn bè quốc tế đều đang góp phần xây dựng hình ảnh đất nước.

Chia sẻ về quá trình tham gia nghiên cứu và giới thiệu những thực hành di sản Việt Nam tại Pháp, trong đó có nghệ thuật Then của người Tày, Nùng, Thái, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà cho biết, công chúng quốc tế không chỉ quan tâm tới hình thức bên ngoài của di sản mà họ còn muốn biết ai là chủ thể thực hành, tại sao cộng đồng lại gìn giữ nó, di sản ấy có ý nghĩa gì trong đời sống và được trao truyền qua các thế hệ ra sao. Vì vậy, quảng bá văn hóa không nên chỉ dừng lại ở việc mang một tiết mục nghệ thuật ra nước ngoài, mà quan trọng hơn là phải kể được câu chuyện phía sau văn hóa và tạo ra được sự đối thoại chân thành giữa con người với con người. Đây chính là lĩnh vực mà kiều bào có thể phát huy lợi thế rất lớn của mình.

Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, trong số những nhiệm vụ được đặt ra, vấn đề tiếng Việt và thế hệ trẻ có lẽ là nội dung gần gũi và trăn trở nhất đối với đời sống của rất nhiều gia đình kiều bào. Với thế hệ thứ nhất, tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, nhưng đối với thế hệ thứ hai và thứ ba, hoàn cảnh đã hoàn toàn khác khi các em sinh sống, học tập và giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ sở tại. Nếu không có môi trường thích hợp, tiếng Việt rất dễ bị thu hẹp trong phạm vi gia đình và dần mai một sau vài thế hệ.

hh2.jpg
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà giới thiệu về văn hóa Việt Nam đến bạn bè Pháp. Ảnh do nhân vật cung cấp
 

Thách thức lớn nhất không chỉ là làm thế nào để trẻ học tiếng Việt, mà là làm thế nào để trẻ muốn sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên. Nếu chúng ta chỉ đặt ra yêu cầu mang tính áp đặt rằng con là người Việt thì phải học tiếng Việt, ngôn ngữ rất dễ trở thành một thứ nghĩa vụ nặng nề. Ngược lại, nếu tiếng Việt gắn liền với ông bà, với những câu chuyện gia đình, những món ăn, ngày Tết, Trung thu, những chuyến về nguồn hay các hoạt động văn hóa mà các em yêu thích, ngôn ngữ ấy sẽ mang một sức sống hoàn toàn khác.

“Việc dạy tiếng Việt không thể tách rời khỏi việc tạo dựng một không gian văn hóa Việt Nam sinh động. Đây cũng là lĩnh vực mà cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài kỳ vọng rất nhiều vào việc triển khai Nghị quyết 23 từ việc cung cấp học liệu phù hợp với trẻ em sinh ra ở nước ngoài, quan tâm đào tạo và hỗ trợ giáo viên tiếng Việt, tăng cường tài nguyên văn hóa số, tổ chức các chương trình giao lưu, trải nghiệm về nguồn cho đến việc tạo ra các sân chơi mà thế hệ trẻ thực sự muốn tham gia. Gia đình giữ vai trò nền tảng, nhưng rõ ràng không thể để mỗi gia đình tự mình giải quyết bài toán gìn giữ tiếng Việt một cách đơn độc”, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà nhấn mạnh.

Một trong những điểm mới có ý nghĩa nhất của Nghị quyết 23 là yêu cầu nâng tầm tư duy trong công tác kiều bào từ “vận động, tập hợp, chăm lo” sang “đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực”. Sự thay đổi này không đơn thuần là sự điều chỉnh về cách diễn đạt, mà phản ánh một cách tiếp cận chủ động và toàn diện hơn. “Đồng hành” có nghĩa là mối quan hệ giữa đất nước với kiều bào ngày càng cần mang tính hai chiều, trong đó kiều bào không chỉ là đối tượng được vận động hướng về quê hương mà còn là những chủ thể có kinh nghiệm, tri thức, mạng lưới và sáng kiến cần được lắng nghe.

Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà

 

Tạo ra những cơ chế thực chất để cộng đồng phát huy vai trò chủ thể, vươn lên thành nguồn lực chiến lược

Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, giá trị lâu dài của Nghị quyết 23 sẽ nằm ở khả năng chuyển hóa những tư duy mới thành những đổi thay cụ thể trong đời sống của cộng đồng. Kiều bào hướng về quê hương bằng muôn vàn con đường khác nhau, từ đầu tư, khoa học-công nghệ, mạng lưới quốc tế, nghệ thuật, giáo dục cho đến những gia đình đang âm thầm gìn giữ tiếng Việt và tình yêu đất nước cho con cháu mỗi ngày. Tất cả những dòng chảy ấy đều là nguồn lực quý giá của quốc gia.

Từ những trao đổi và quan sát trong đời sống cộng đồng, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà cho biết, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài kỳ vọng, Nghị quyết 23 sớm được cụ thể hóa thành những cơ chế có thể nhìn thấy, tiếp cận và sử dụng được trong thực tế.

Cụ thể, bà con kỳ vọng: được lắng nghe nhiều hơn bởi mỗi cộng đồng ở các quốc gia khác nhau đều có những đặc thù, lịch sử và nhu cầu riêng biệt; có những đầu mối kết nối rõ ràng và hiệu quả để trí thức, chuyên gia, doanh nhân, nghệ sĩ và các hội đoàn dễ dàng tìm kiếm đối tác phù hợp tại Việt Nam; các hội đoàn được tạo điều kiện để nâng cao năng lực và phát triển bền vững thay vì chỉ dựa vào sự tự nguyện đơn thuần; cần sự đầu tư dài hạn cho tiếng Việt, văn hóa và thế hệ trẻ - nền tảng quyết định mối liên hệ lâu dài giữa đất nước với các thế hệ kiều bào tương lai. Và cuối cùng là kỳ vọng tinh thần hòa hợp, cầu thị, trân trọng sẽ được thể hiện ngày càng rõ nét để bất kỳ người Việt Nam nào có mong muốn đóng góp cho quê hương đều tìm thấy một cánh cửa rộng mở.

hoangha2.jpg
 Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà dạy tiếng Việt cho con em các kiều bào Việt Nam tại Pháp. Ảnh do nhân vật cung cấp

Riêng trong lĩnh vực văn hóa, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà kỳ vọng, tinh thần của Nghị quyết sẽ tạo động lực để thắt chặt hơn nữa mạng lưới kết nối giữa các cơ quan trong nước với hội đoàn, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, giáo viên và thế hệ trẻ ở nước ngoài. Nếu một người trẻ sinh ra tại Paris vẫn có thể trò chuyện bằng tiếng Việt, tự hào về nguồn gốc nhưng tự tin hội nhập vào xã hội Pháp, và nếu một nhà trí thức, doanh nhân hay hội đoàn có sáng kiến hay đều biết rõ mình cần tìm đến ai để biến ý tưởng thành hành động, thì khi ấy tinh thần “đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực” đã thực sự đi vào cuộc sống.

“Kỳ vọng lớn nhất của tôi đối với Nghị quyết 23-NQ/TW không chỉ củng cố sợi dây gắn bó bền chặt giữa hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc, mà còn tạo ra những cơ chế thực chất để cộng đồng phát huy trọn vẹn vai trò chủ thể, vươn lên thành nguồn lực chiến lược, nhịp cầu nối liền Việt Nam với thế giới và là những đại sứ rạng ngời của văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới”, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà chia sẻ.

Khánh Lan/ nhandan.vn


Các tin khác

noData
Không có dữ liệu

Tin tiêu điểm