Tin mới nhất
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tiềm năng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Tạp chí Quê Hương xin giới thiệu bài viết của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phú Bình, Chủ nhiệm UBVNVNONN cho Tạp chí Thương Mại tháng 12/2004

Theo những thống kê không chính thức, hiện nay có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại trên 90 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó 4/5 sống ở các nước phương Tây, tập trung ở Hoa Kỳ (1.300.000 người), Canada (200.000), Pháp (250.000), L.B Đức (100.000)...

Trong những năm qua, mặc dù thế giới có nhiều biến động, song cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn đang phát triển theo hướng ngày càng ổn định và hoà nhập tốt hơn vào xã hội nước sở tại; có vị trí, ảnh hưởng nhất định ở nơi cư trú và có tác động ở mức độ khác nhau trong việc duy trì, củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam với nước sở tại có người Việt Nam sinh sống.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng trẻ, được hình thành và phát triển chủ yếu từ giữa những năm 70 của thế kỷ trước, nên tiềm năng kinh tế và địa vị chính trị của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài còn ở mức khiêm tốn.

Về mặt kinh tế, tại các nước phương Tây, mặc dù đa số bà con đã ổn định cuộc sống và được đánh giá là một cộng đồng phát triển nhanh có nhiều khả năng và triển vọng trong làm ăn, kinh doanh, nhưng hiện tại số người giàu có với mức vốn vài triệu USD trở lên còn ít; đại đa số bà con có mức sống thuộc loại trung bình hoặc trung bình thấp so với mức sống của người dân sở tại.

Tại Mỹ, nhìn chung, tiềm lực kinh tế của cộng đồng người Việt tại Mỹ chưa mạnh. Số người Việt giàu có chiếm tỷ lệ thấp; đa số các doanh nghiệp của kiều bào như nhà hàng, siêu thị bán thực phẩm Châu Á và các loại dịch vụ khác chủ yếu kinh doanh phục vụ trong nội bộ cộng đồng, trong khi đó hầu hết các khu chợ người Việt đều do người Hoa, Hàn Quốc, Do Thái... làm chủ. Có rất ít các công ty của người Việt có khả năng vươn ra thị trường Mỹ, kinh doanh ngang hàng với các công ty nhỏ và vừa của Mỹ. Hiện nay, thu nhập bình quân của người Việt tại Mỹ mới ở mức 12.000 USD/người/năm (người gốc Á: 18.000 và người Mỹ : 20.000); số người Việt sống dưới mức nghèo khổ còn ở tỷ lệ khá cao: 20% (gốc Á: 14 %; người Mỹ 10,2%). Tuy nhiên, gần đây xuất hiện một số triệu phú người Việt trẻ tại thung lũng điện tử Silicon.

Tại Canada, tiềm năng kinh tế của cộng đồng người Việt tại đây có hạn. Số nhỏ thành công trong kinh doanh, nhưng chỉ với qui mô vừa và nhỏ, không có các công ty với số vốn lớn. Đa số những người Việt thành đạt hiện nay chủ yếu là những người sang du học tại Canada từ trước năm 1975. Họ có kiến thức, học vị, có công ăn việc làm ổn định trong các hãng hoặc các cơ sở nghiên cứu, các cơ quan chính quyền của Canada. Những người sang sau 1975, cho dù một số có vốn nhưng rất khó vươn lên vì rất khó cạnh tranh trong môi trường minh bạch về pháp luật của một nước công nghiệp phát triển có nền kinh tế thị trường ổn định và bị chi phối bởi những tập đoàn kinh tế lớn.

Tại Australia, do người Việt Nam đến đây sinh cơ lập nghiệp chỉ mới vài chục năm lại đây, nên sự thành đạt về kinh tế chưa đáng kể. Phần lớn họ tập trung sinh sống tại các thành phố lớn và làm công ăn lương hoặc mở các cửa hàng buôn bán nhỏ như vải sợi, may vá, nhà hàng, dịch vụ cho cộng đồng người Việt (môi giới dịch vụ, bảo lãnh, mua bán xe cũ, cho thuê đồ cưới, khai thuế, dạy lái xe, sửa nhà , làm mộc...). Phần đông bà con người Việt tại Australia là những người rất nghèo. Theo tài liệu Community Profiles - 1991 Census- Việt Nam Born của Chính phủ Australia, mức lương trung bình của người Việt tại Australia là 8.300 đô la Australia /năm, trong khi đó dân bản xứ là 14.200 đô la Australia/ năm. Mặt khác, tỷ lệ thất nghiệp người Việt Nam cao nhất so với gần 80 cộng đồng cư dân nước ngoài sống ở Australia.

Tại các nước Tây Âu và Bắc Âu, ít người Việt giàu có; đa số là những người làm thuê, làm công ăn lương hoặc hưởng trợ cấp xã hội. Cũng như ở Mỹ, tại một số khu vực tập trung đông người Việt Nam sinh sống ở Pháp, Cộng hoà liên bang Đức... các doanh nghiệp, cửa hàng, cửa hiệu buôn bán của kiều bào đã và đang bị các đối thủ kinh tế của một số cộng đồng kiều dân khác cạnh tranh, lấn át.

Ở các nước láng giềng như Lào, Trung Quốc, Campuchia, đa số kiều bào có cuộc sống vật chất khó khăn, nhất là kiều bào ta ở Campuchia. Họ chủ yếu làm thợ, dịch vụ nhỏ, đánh bắt cá ... ở Thái Lan, do quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan được cải thiện, chính sách đối với kiều bào ta của Chính phủ Thái ngày càng tích cực, nên kiều bào có nhiều thuận lợi hơn trong làm ăn và có vai trò tương đối lớn trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ ở các tỉnh Đông Bắc Thái Lan.

Cộng đồng người Việt Nam tại Nga và các nước Đông Âu bao gồm số lao động, sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh và những người sang du học tự túc, đi du lịch, thăm thân rồi ở lại. Các loại đối tượng trên hoà nhập vào nhau, hình thành một cộng đồng người Việt làm ăn, buôn bán tại khu vực này. Họ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại, đa số mở cửa hàng, buôn bán nhỏ. Do tình hình kinh tế xã hội và chính sách cư trú đối với người nước ngoài ngày càng khắt khe, việc làm ăn của họ ngày càng khó khăn hơn. Một bộ phận không nhỏ làm ăn khá thành đạt, có thu nhập và tích luỹ vốn cao, đã có một số công ty về hợp tác làm ăn, đầu tư ở trong nước. Còn lại đa phần bà con làm ăn buôn bán nhỏ, tích cóp tiền để gửi về cho thân nhân trong nước. Như vậy, có thể khẳng định rằng cộng đồng người Việt tại khu vực này là nguồn tiềm năng, một lợi thế, một nguồn lực quan trọng về vốn và khả năng tạo các mối quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân nước ngoài với nước ta, góp phần bổ sung, hỗ trợ cho sự phát triển của đất nước.

Về lĩnh vực thương mại, nhiều công ty của người Việt Nam ở nước ngoài đã thiết lập mối quan hệ buôn bán, xuất nhập khẩu với các công ty tại Việt Nam; đặc biệt là hoạt động kinh doanh của người Việt Nam tại Nga và các nước Đông Âu đã duy trì và tạo được mạng lưới buôn bán lẻ hàng Việt Nam ở những nước này. Theo số liệu không chính thức, hàng năm lượng hàng hoá của Việt Nam được các công ty của người Việt tại các nước này nhập khẩu phi mậu dịch vào thị trường các nước này lên tới 200 triệu USD. Các mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam chủ yếu là hàng may mặc, thực phẩm đông lạnh, đồ mỹ nghệ, gốm, sứ. .. Mặt hàng nhập về Việt Nam từ thị trường khu vực này là dây chuyền chế biến thực phẩm, thiết bị cầu cảng...

Người Việt Nam ở nước ngoài còn đóng vai trò trung gian, làm cầu nối tạo dựng các mối quan hệ buôn bán, giúp thiết lập quan hệ hợp đồng giữa các công ty nước ngoài với các công ty của Việt Nam.

Về mặt chính trị, sự thành đạt chưa nhiều: ở Australia, mới thấy có ít người Australia gốc Việt trở thành nghị sĩ bang hoặc thị trưởng thành phố nhỏ (dưới 100.000 dân); ở Hoa Kỳ, một số người Mỹ gốc Việt được bầu làm Uỷ viên Hội đồng thành phố, có người được bổ nhiệm làm trợ lý hoặc cố vấn trong các Văn phòng của nghị sĩ, thị trưởng...

Về tiềm năng tri thức khoa học và công nghệ, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người (một số tài liệu nêu 400.000 người, con số này cũng chỉ ước đoán, chưa có điều tra cơ bản chính thức) được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, khoa học và công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt được vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển; trong đó một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu và Châu Đại dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán...Theo ước tính, chỉ số học vấn đại học và trên đại học của người Việt Nam ở nước ngoài tại các nước công nghiệp phát triển gần ở mức trung bình của người dân sở tại. Chỉ số học vấn của thế hệ trẻ khá cao (tại Mỹ, cứ 2 người gốc Châu Á tuổi từ 25 đến 29 thì có 1 người có trình độ đại học và trên đại học). Chính thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài đang làm thay đổi cơ cấu cộng đồng từng bước thay thế lớp người lớn tuổi ít nhiều còn mặc cảm với quá khứ. Thế hệ trẻ này đang trở thành một đối tượng quan trọng của công tác vận động nhằm động viên khuyến khích sự hợp tác, đóng góp của họ đối với công cuộc xây dựng quê hương đất nước. Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến và hiện đại. Họ có khả năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn đề xuất và tạo dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại. Từ trước đến nay, đội ngũ trí thức kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước đánh giá là thế mạnh của cộng đồng, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

Khu vực Tây Âu và Bắc Âu: tại Pháp có khoảng 40.000 trí thức, trong đó có khoảng 40 người có học hàm cao và giữ vị trí tương đối quan trọng trong các lĩnh vực hoá sinh, vật lý, công nghệ, toán học, tin học...Tại Đức có khoảng trên 300 trí thức khoa học kỹ thuật và chuyên gia lành nghề; một số đang giữ vị trí quản lý điều hành, tập trung ở các lĩnh vực điện tử, kỹ nghệ giấy in, hoá học, năng lượng, khai thác dầu khí, kiến trúc, toán máy tính, nông sinh, chế biến thực phẩm, y , dược, tài chính...Tại Anh có khoảng trên 100 trí thức; tại Bỉ có khoảng 500 trí thức tập trung ở các lĩnh vực cơ khí, hoá chất, luyện kim, điện tử, tin học, nông học, giáo dục - đào tạo, báo chí, khoa học xã hội...

Tại Mỹ, đội ngũ trí thức người Việt khá đông đảo, ước tính có khoảng 150.000 người có bằng đại học hoặc trên đại học . Đặc biệt là đội ngũ trí thức trẻ, có nhiều tiềm năng, tập trung chủ yếu trong các ngành khoa học và kinh tế mũi nhọn như cơ khí chế tạo, tin học viễn thông, vũ trụ, y học, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán. Hiện có hơn 10.000 chuyên gia, kỹ sư tin học, kỹ thuật viên cao cấp làm việc tại Thung lũng Silicon (San José); 150 người làm việc trong Ngân hàng Thế giới; trên 200 nhà khoa học ở Houston, Texas làm việc cho NASA, khoảng 1000 người làm việc tại các cơ sở của Bộ Quốc phòng Mỹ. Tại Canada, có khoảng 2000 trí thức, trong đó có khoảng 20 người có học hàm cao đang nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học nổi tiếng của Canada. Trí thức kiều bào tại nước này được đào tạo có hệ thống, làm việc trong môi trường tiên tiến, hiện đại, có chuyên môn trong các ngành kinh tế mũi nhọn như viễn thông, tin học, điện tử, môi trường, sinh học...

Tại Australia, có khoảng 7.000 trí thức, trong đó tỷ lệ giáo sư, tiến sỹ, phó tiến sỹ chiếm 0,5%.

Tại Nhật, có khoảng 80 trí thức trong các ngành kinh tế, hoá sinh dược, nông lâm thuỷ sản, điện tử, tin học, cơ khí, xã hội học...

Tại Đông Âu và Liên Bang Nga, có khoảng 4000 người có trình độ đại học trở lên (riêng Nga có khoảng 2.500 ), trong đó có 500 giáo sư, tiến sỹ, phó tiến sỹ. Nhìn chung anh chị em trí thức này có ý thức gắn bó với quê hương đất nước, có quan hệ thường xuyên với các đồng nghiệp trong nước và là một lực lượng có thể đáp ứng một số yêu cầu mà trong nước đòi hỏi trên các lĩnh vực dầu khí, hoá học, y học, vật lý hạt nhân, vật lý cơ học, điện tử, thông tin, chế tạo máy, viễn thông, điều khiển học, công nghệ vật liệu mới...Tuy nhiên, vài năm gần đây, lực lượng này cũng biến động mạnh, một số vừa tham gia hoạt động kinh tế vừa nghiên cứu khoa học, một số khác thì chuyển hẳn sang kinh doanh, không còn làm chuyên môn như đã được đào tạo.

Tóm lại, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có trình độ học vấn, chuyên môn cao, một số người giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng các mối quan hệ với các cơ sở kinh tế khoa học ở nước sở tại.

Trên cơ sở quán triệt các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX và Nghị quyết số 08 ngày 23-11-1993 của Bộ Chính trị (Khoá VII) và Nghị quyết số 36-NQ/TW (ngày 26/03/2004) của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và Chương trình hành động của Chính phủ ngày (23/06/2004) thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị, thời gian qua, với những nỗ lực chung của các cấp, các ngành, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã thu được những kết quả đáng khích lệ, góp phần làm cho cộng đồng chuyển biến theo hướng tích cực. Số lượng kiều bào về thăm gia đình, quê hương năm sau nhiều hơn năm trước: năm 1999 là 280.000 lượt người, năm 2000 và 2001, mỗi năm khoảng 360.000 lượt người và năm 2003 khoảng 380.000 lượt người, trong đó khoảng 50% về lần đầu. Nhiều bà con về lần đầu thực sự thấy ngạc nhiên trước sự thay đổi, phát triển nhanh chóng của đất nước trên nhiều lĩnh vực mà họ không thể hình dung hết được khi ở nước ngoài.

Về lĩnh vực đầu tư, tính từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1988 đến hết năm 2003, có 74 dự án đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài đang triển khai hoạt động với tổng số vốn đăng ký hơn 540 triệu USD, và khoảng 1200 doanh nghiệp có vốn đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, với tổng số vốn đăng ký 2.700 tỷ đồng. Tuy con số đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài chưa lớn so với đầu tư nước ngoài cũng như đầu tư của người Việt Nam ở trong nước, nhưng với tỷ lệ dự án và số người tham gia đầu tư trong cộng đồng 2,7 triệu kiều bào thì đây là một con số đáng khích lệ. Đặc biệt, trong thời gian gần đây (từ năm 1996) số doanh nghiệp của người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về nước tăng mạnh và đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghiệp nhẹ, xây dựng, khách sạn, công nghệ thực phẩm, du lịch và dịch vụ... Kết quả đầu tư của kiều bào cùng với đầu tư của nước ngoài nói chung đã góp phần bổ sung nguồn vốn, tạo thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế đất nước. Mặt khác, thông qua đầu tư nói trên, nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên… được khai thác và sử dụng tương đối có hiệu quả. Ngoài ra, vì nhiều lý do khác nhau, người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về nước dưới danh nghĩa người thân trong nước, tuy con số này chưa được thống kê, nhưng ước tính là rất lớn cả về số lượng dự án lẫn tổng số vốn đầu tư. Với vị trí vừa có kiến thức thị trường nước ngoài, vừa am hiểu tình hình, phong tục, tập quán trong nước và có lợi thế về ngôn ngữ, kiều bào đã phát huy tốt vai trò môi giới, xúc tiến đầu tư, đưa các công ty, các hãng lớn của nước ngoài vào đầu tư tại Việt nam. Mặt khác, Trưởng đại diện các công ty nước ngoài tại Việt Nam đa số là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Hiện có trên 100 công ty và văn phòng đại diện của kiều bào đang tham gia hợp tác, kinh doanh dịch vụ tại Việt Nam về các lĩnh vực xuất nhập khẩu, cung cấp thiết bị cho các cơ quan trong nước, gia công hàng may mặc, dịch vụ y tế, kiều hối... Nhiều công ty của người Việt Nam ở nước ngoài đã thiết lập mối quan hệ buôn bán, xuất nhập khẩu với các công ty tại Việt Nam.

Về kiều hối, với chính sách thông thoáng hơn, tháo gỡ một số hạn chế về thuế, dịch vụ chi trả, cho phép người thụ hưởng trong nước được nhận bằng ngoại tệ thay vì chỉ được nhận bằng đồng Việt Nam như trước... đã tạo sự hấp dẫn hơn, nên trong những năm qua số lượng kiều hồi gửi cho thân nhân trong nước qua các kênh chính thức như hệ thống ngân hàng Nhà nước, hải quan, bưu điện tăng mạnh. Năm 1999, lượng kiều hối gửi về qua ngân hàng là 1,2 tỷ USD, năm 2000 và 2001 mỗi năm đạt hơn 1,8 tỷ USD; năm 2003 là 2,7 tỷ USD và dự kiến năm 2004 là trên 3,0 tỷ USD. Trong giai đoạn hiện nay, việc hàng năm thu hút được một lượng kiều hối như trên là điều rất có ý nghĩa, góp phần tăng khả năng tích luỹ ngoại tệ và điều hành nền kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Đối với người dân trong nước, kiều hối góp phần tăng thu nhập, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần cải thiện đời sống cho một bộ phận dân cư.

Đáng chú ý hơn cả là trong những năm gần đây, sự đóng góp của đội ngũ chuyên gia, trí thức kiều bào đối với đất nước ngày càng tăng. Họ về hợp tác với các cơ quan trong nước dưới nhiều hình thức khác nhau như tham gia giảng dạy, tham gia đề tài nghiên cứu ; môi giới đưa chuyên gia nước ngoài vào hợp tác với trong nước; môi giới mời chuyên gia trong nước dự các sinh hoạt khoa học quốc tế; môi giới xin học bổng đào đạo, nghiên cứu; quyên góp học bổng khuyến khích tài năng trẻ; kết hợp hoạt động sản xuất kinh doanh với nhập tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ; tham gia các chương trình hợp tác quốc tế của Việt Nam. Hàng năm có khoảng trên 200 lượt trí thức kiều bào từ các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Nhật, Australia...được mời về làm việc với các bộ ngành, đia phương, các cơ quan nghiên cứu khoa học hoặc các cơ sở sản xuất, chế biến sản phẩm; trong đó có người đã được mời làm tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ. Một số lĩnh vực đang nghiên cứu hợp tác có hiệu quả như tin học và ứng dụng tin học, điện tử , viễn thông, y học, vật liệu cômposit, giáo dục-đào tạo, tài chính-kế toán, ngân hàng, xây dựng, công nghệ in , chế biến và bảo quản thực phẩm, giống cây, nuôi trồng thuỷ sản, xử lý chất thải công nghiệp...

Mặt khác, cũng cần nhấn mạnh rằng thời gian qua, cùng với những thành tựu đạt được trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, tình hình chính trị xã hội tiếp tục ổn định, quan hệ đối ngoại được tăng cường, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới được nâng cao, công tác xây dựng chính sách và vận động người Việt Nam ở nước ngoài đã góp phần tạo nên sự chuyển biến tích cực trong cộng đồng, thúc đẩy xu thế kiều bào hướng về quê hương và có những đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng đất nước. Tuy nhiên, so với tiềm năng to lớn của cộng đồng và yêu cầu đòi hỏi của tình hình, sự đóng góp và hợp tác của trí thức và doanh nhân kiều bào với đất nước còn khiêm tốn. Nguyên nhân hạn chế này chủ yếu là do hệ thống chính sách, cơ chế và sự quan tâm từ phía trong nước.

Trước hết, hệ thống pháp luật của ta thiếu đồng bộ, hay thay đổi, và mỗi lần thay đổi hầu như đều gây thiệt hại hoặc khó khăn cho doanh nghiệp kiều bào. Với hệ thống pháp lý hiện tại, kiều bào cảm thấy thiếu an toàn khi đưa vốn và công nghệ đầu tư về nước. Dư luận đã lên tiếng về khuynh hướng hình sự hoá các vụ án kinh tế mà không ít những vụ việc đó liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Các thủ tục hành chính phiền hà, tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực ở một số cơ quan, cá nhân trong bộ máy hành chính từ trung ương đến các địa phương trong cả nước cũng là một trong nhiều nhân tố làm nản lòng ý muốn đầu tư của kiều bào.

Về mặt tình cảm, mỗi khi kiều bào về nước thăm thân, đầu tư, kinh doanh đều mong muốn được Nhà nước ta đối xử bình đẳng như đồng bào ở trong nước. Tuy nhiên, trong nước vẫn còn khuynh hướng nặng về khai thác, tranh thủ sự đóng góp vật chất của kiều bào, chưa chú ý dành cho họ sự cảm thông, sự quan tâm và hỗ trợ cả về tinh thần lẫn vật chất. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương liên quan còn thiếu nhịp nhàng, chặt chẽ, nhất là trong xử lý các tình huống, các vấn đề bức xúc liên quan đến kiều bào khi họ ở nước ngoài hoặc khi về nước, dẫn đến một số trường hợp ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao giữa nước ta với nước khác và làm cộng đồng nghi ngại trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

Việc tranh thủ tiềm năng chất xám của người Việt Nam ở nước ngoài mới dừng ở việc mời các nhà khoa học về nước làm tư vấn cho một số dự án, tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục. Việc động viên khuyến khích các nhà khoa học kiều bào tầm cỡ tham gia vào các lĩnh vực ưu tiên của đất nước vẫn chưa làm được nhiều. Nhiều trí thức người Việt ở nước ngoài mong muốn đóng góp trí tuệ và tâm huyết của mình cho đất nước, nhưng họ không biết trong nước cần gì và làm thế nào để có thể đóng góp, trong khi họ bị những ràng buộc về pháp lý, về thời gian...Vả lại, các cơ quan chức năng trong nước chưa đưa ra những yêu cầu cụ thể và những biện pháp, chính sách thoả đáng để tranh thủ sự đóng góp chất xám của trí thức kiều bào.

Một vấn đề khác gây trở ngại cho sự đóng góp của kiều bào vào sự phát triển của đất nước, đó là hàng rào tâm lý cả từ hai phía. Ở trong nước, chưa phải đã hết những cách nhìn hẹp hòi, thành kiến, nghi kỵ thậm chí thái độ “vơ đũa cả nắm” đối với kiều bào mà số đông ra đi vì những biến cố lịch sử hoặc vào thời kỳ đất nước gặp nhiều khó khăn nhất. Điều đó thể hiện khá phổ biến trong giao tiếp cũng như trong việc xử lý các vấn đề, kể cả vấn đề pháp lý có liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Về phía bà con, do quen sống trong các xã hội mà môi trường pháp lý khá hoàn thiện, rõ ràng và tương đối ổn định, các phương tiện phục vụ cho kinh doanh, làm việc đầy đủ nên hay có sự so sánh và họ dễ nản lòng khi vấp phải những khó khăn, trắc trở ban đầu ở trong nước. Một số ít người có những hành vi đầu cơ, trục lợi, làm ăn bất chính cũng ít nhiều gây ảnh hưởng xấu đến những kiều bào đang làm ăn chân chính tại quê nhà.

Từ những khó khăn và trở ngại nêu trên, để có thể huy động ngày càng nhiều và có hiệu quả sự đóng góp của kiều bào vào sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, việc triển khai, đưa Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết nói trên vào cuộc sống là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân ta trong thời gian tới. Trong Chương trình hành động của Chính phủ có 11 mục và mỗi mục đều qui định rõ nhiệm vụ của từng bộ, ngành, địa phương liên quan, xác định rõ lộ trình và thời gian cụ thể để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện. Về nội dung, Chương trình hành động của Chính phủ đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng các chính sách, biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ kiều bào ổn định cuộc sống, hội nhập vào đời sống xã hội sở tại, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, duy trì tiếng Việt và bản sắc văn hoá dân tộc, qua đó, tăng cường mối quan hệ của kiều bào với quê hướng đất nước, góp phân xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh. Do đó, Chương trình hành động của Chính phủ quan tâm xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm phát huy tiềm năng chất xám của trí thức kiều bào, phát huy tiềm của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, đầu tư, kinh doanh với trong nước; rà soát các chính sách hiện có, đề ra các chính sách biện pháp mới hữu hiệu nhằm thể chế hoá những ưu đãi đối với kiều bào, từng bước đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chính đáng của bà con mong muốn được đối xử như người Việt Nam ở trong nước; xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương trong nước và ngoài nước, giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức đoàn thể quần chúng nhằm khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ trong xây dựng chính sách, thiếu thông thoáng trong qui định, thủ tục hành chính, tình trạng một số chính sách không được quán triệt và thực hiện đầy đủ ở một số ngành và địa phương.

Trước mắt, cần tập trung xây dựng những bước đi và biện pháp cụ thể thực hiện đúng chủ trương hoà giải, hoà hợp dân tộc, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, khuyến khích và tạo điều kiện để kiều bào về nước thăm thân, du lịch, đầu tư kinh doanh, hợp tác nghiên cứu khoa học, thực hiện các hoạt động từ thiện, nhân đạo...; đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu của kiều bào về xuất nhập cảnh, hồi hương, cấp đổi hộ chiếu, thủ tục giải quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch Việt Nam, nguyện vọng được mua và sở hữu nhà ở để nghỉ ngơi, dưỡng già tại quê nhà...qua đó khích lệ kiều bào, đặc biệt là thế hệ con cháu sinh trưởng ở ngoài nước hướng về cội nguồn, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần xây dựng quê hương đất nước.

Dù sống ở chân trời góc bể nào, cộng đồng 2,7 triệu người Việt Nam ở nước ngoài vẫn luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Dù còn giữ quốc tịch Việt Nam hay không, bà con vẫn còn gốc gác Việt Nam, vẫn mang trong mình huyết thống Việt Nam và sẽ mãi gắn bó với quê hương đất nước. Từ trước đến nay, quan điểm và chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với kiều bào là rõ ràng, nhất quán và đúng đắn. Chính phủ cũng như chính quyền các cấp địa phương luôn tạo mọi thuận lợi và trân trọng mọi sự đóng góp của bà con kiều bào theo những hình thức và khả năng phù hợp của bà con. Việc đánh giá đầy đủ và nhìn nhận đúng các khả năng nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để từ đó đề xuất thêm những giải pháp, chính sách theo hướng ngày càng thông thoáng hơn, toàn diện và thuận lợi hơn nhằm động viên khuyến khích sự đóng góp xứng đáng của bà con kiều bào đối với việc xây dựng thành công một nước Việt Nam "dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị nêu trên.

 


Các tin khác

noData
Không có dữ liệu

Tin tiêu điểm