Tin mới nhất
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và hướng về quê hương

Bài của Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài NGUYỄN ĐÌNH BIN viết cho tạp chí CỘNG SẢN số Tết Quý Mùi – 2003

Trước năm 1975 mới có khoảng 150 nghìn người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài chủ yếu là một số nước láng giềng, Pháp và các lãnh thổ thuộc địa của Pháp. Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân, số lượng người Việt Nam ở nước ngoài tăng lên nhanh chóng và đã trở thành một cộng đồng đáng kể. Ứớc tính hiện có khoảng 2,7 triệu người đang làm ăn sinh sống ở gần 90 nước và lãnh thổ trên thế giới, trong đó ở Mỹ khoảng 1,3 triệu người; Pháp 250 nghìn; Ô-xtrây-li-a 250 nghìn; Ca-na-đa 180 nghìn; Căm-pu-chia, Thái Lan, Đức, Nga – mỗi nước khoảng 100 nghìn; Đài Loan 65 nghìn; Anh 35 nghìn; Séc 25 nghìn; Lào 18 nghìn; Trung Quốc, Ba Lan, Bỉ, Thuỵ Điển – mỗi nước trên dưới 10 nghìn...

Trong những năm gần đây, xu hướng phát triển của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là ngày càng ổn định, hội nhập vào xã hội và đất nước cư trú, tiếp thu các giá trị văn hoá sở tại đồng thời vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, từng bước có vị trí nhất định trong việc làm cầu nối cho quan hệ giữa nước ta với các nước này. Khoảng 2/3 tổng số kiều bào ta đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng không từ bỏ quốc tịch Việt Nam.

Hiện nay, đời sống của phần lớn kiều bào ta còn ở mức trung bình thấp hoặc trung bình so với người dân sở tại. Số người giầu có theo tiêu chuẩn của các nước này còn rất ít. Các doanh nghiệp của kiều bào ta mới đủ sức phục vụ nội bộ cộng đồng là chính. Tuy nhiên, sau hơn 1/4 thế kỷ hội nhập, vừa tích lũy vừa mở rộng quan hệ làm ăn, bà con đã bước đầu xây dựng được cơ sở cho cuộc sống ổn định lâu dài ở hầu hết các nước và vùng lãnh thổ.

Mặc dù tiềm lực kinh tế chưa lớn, nhưng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm năng tri thức đáng kể và rất đa dạng. Hàng trăm nghìn người được đào tạo ở trình độ đại học hoặc là công nhân kỹ thuật bậc cao ở các nước công nghiệp phát triển, có điều kiện tiếp cận với những thông tin và thành tựu mới về quản lý, khoa học và công nghệ. Một số người hiện giữ những vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty, doanh nghiệp lớn hoặc các tổ chức quốc tế. Một thế hệ trí thức mới là những người gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu và Ô-xtrây-li-a, tập trung ở nhiều lĩnh vực mũi nhọn như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán...

Sợi dây tình cảm mà các thế hệ trước duy trì với quê cha đất tổ nay vẫn được giữ gìn trong lòng thế hệ kế tiếp. Ở một số nước như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-lia, Pháp, Lào, Căm-pu-chia, Thái Lan, Anh, Đức, Nga, Séc... người Việt Nam sinh sống và làm ăn tập trung thành những khu vực, thị trấn, khu phố riêng nên tạo được môi trường thuận lợi cho việc gìn giữ tiếng Việt, bản sắc dân tộc và các sinh hoạt truyền thống. Các sinh hoạt cộng đồng và nhất là việc dạy tiếng Việt chủ yếu do các hội đoàn hoặc do bà con tổ chức trong từng gia đình. Tuy vậy, nhiều gia đình phải vật lộn kiếm sống và ít có cơ hội về nước nên chưa có điều kiện chăm lo giữ gìn các giá trị văn hoá Việt Nam. Do ở nước ngoài nhiều năm nên trong các gia đình 3-4 thế hệ thường có hiện tượng ông bà, bố mẹ còn nói với nhau bằng tiếng Việt, nhưng con cháu nói được rất ít hoặc chỉ nghe hiểu mà không nói, không viết được tiếng Việt. Các cộng đồng người Việt hình thành từ năm 1975 trở lại đây, tuy phần lớn mới có 2-3 thế hệ, nhưng thế hệ sinh trưởng ở nước ngoài cũng đang ngày càng ít nói được tiếng Việt. Do đó, nhu cầu giao lưu văn hoá giữa cộng đồng với đất nước, nhu cầu giữ gìn tiếng Việt ngày càng trở nên bức xúc.

Nhiều người ra đi trong khoảng từ cuối tháng 4/1975 đến giữa những năm 1980 còn mặc cảm với quá khứ. Do chưa có điều kiện tiếp cận với những thông tin trung thực về sự đổi thay ở quê nhà nên những người này ít nhiều còn thành kiến với cuộc sống ở trong nước. Một số ít vẫn còn mang tư tưởng hận thù. So với nhiều cộng đồng kiều dân khác trên thế giới thì đây là điểm khá điển hình của một bộ phận Việt kiều.

***

Tại các nước phương Tây, cuộc sống của Việt kiều tương đối ổn định, mặc dù mức độ hội nhập về chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá - giáo dục... đều thấp hơn so với các cộng đồng người Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc. Một số người Việt ở Mỹ, Ô-xtrây-lia... đã được bổ nhiệm vào những chức vụ có ảnh hưởng nhất định trong chính quyền như trợ lý bộ trưởng, thành viên trong nhóm cố vấn của tổng thống, nghị sĩ bang, ủy viên hội đồng thành phố. Những người có thái độ "trung gian" chiếm phần lớn trong cộng đồng, dù lúc này lúc khác bị các thế lực cực đoan đe doạ, lôi kéo nhưng nhìn chung bà con tránh dính líu đến các hoạt động chính trị, chỉ lo làm ăn và khi có điều kiện thì về nước thăm thân nhân, giúp gia đình, đi du lịch hoặc tìm hiểu cơ hội đầu tư... Dư luận chung ngày càng quan tâm đến chính sách của Nhà nước đối với kiều bào. Đa số bà con ở các nước, nhất là Mỹ, hoan nghênh và ủng hộ Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ. Nhiều người, nhất là giới trẻ, hăng hái thúc đẩy hoạt động đầu tư, kinh doanh hoặc giới thiệu các đối tác nước ngoài vào Việt Nam làm ăn. Các Hội người Việt Nam và các tổ chức nghề nghiệp, đồng hương, từ thiện ở Pháp, Bỉ, Nhật, Đức, Ô-xtrây-lia... đang có những hoạt động đóng góp thiết thực hướng về đất nước.

Cuộc sống của người Việt Nam ở khu vực Đông Âu và Liên Xô cũ đã có những phát triển nhất định, nhưng chưa ổn định. Nhiều người không có ý định lập nghiệp lâu dài, thêm vào đó, dòng người nhập cư mới từ Việt Nam tiếp tục vào khu vực này làm cho cộng đồng thêm phức tạp, phải đối mặt hằng ngày với nhiều khó khăn, nhất là về địa vị pháp lý và an ninh cộng đồng. Thực tế này cho thấy cần phải có giải pháp tổng thể về mặt nhà nước giữa nước ta với các nước này nhằm hợp pháp hoá sự tồn tại và phát triển của cộng đồng người Việt Nam ở đây. Tình trạng phạm pháp trong cộng đồng (tàng trữ, sử dụng và làm giấy tờ giả mạo, cạnh tranh chèn ép nhau trong kinh doanh...) khiến bà con không yên tâm làm ăn và ảnh hưởng xấu đến quan hệ của cộng đồng người Việt với nhân dân địa phương.

Cuộc sống của bà con người Việt ở các nước láng giềng, nhất là ở Lào và Trung Quốc đang có điều kiện phát triển thuận lợi và ổn định. Chính quyền Thái Lan đã giải quyết cho những người thuộc thế hệ 2, 3 nhập quốc tịch Thái Lan và cấp giấy tờ định cư cho những người thuộc thế hệ 1. Ở Căm-pu-chia, tuy đời sống vật chất còn gặp nhiều khó khăn, hai năm qua cuộc sống tinh thần của Việt kiều đã được cải thiện.

***

Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tại Đại hội lần thứ IX "Đồng bào định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam..." được thể hiện rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước".

Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách quan trọng liên quan đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Sau các Quyết định số 210 và 114 của Thủ tướng Chính phủ trong những năm 1999-2000 về một số chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài, có thể nói là về căn bản khi về nước bà con kiều bào đã được hưởng chính sách một giá như đồng bào ở trong nước.

Nghị định 81/2001/NĐ-CP ngày 05/11/2001 của Chính phủ hướng dẫn triển khai trên thực tế các quy định mới của Luật đất đai về việc người Việt Nam ở nước ngoài được mua nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thực hiện một chính sách ổn định, lâu dài nhằm thu hẹp, tiến tới xoá bỏ khoảng cách giữa người Việt Nam ở nước ngoài và người Việt Nam ở trong nước. Năm 2002, một số người đã về nước mua nhà, ổn định cuộc sống.

Ngày 28/6/2002, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho các cơ quan hữu quan khẩn trương thi hành các giải pháp thúc đẩy công tác thông tin, tăng cường cung cấp các sản phẩm văn hoá và cử các đoàn nghệ thuật ra nước ngoài phục vụ kiều bào. Đáng chú ý là kênh truyền hình VTV4 đã phủ sóng đến tất cả các khu vực có nhiều người Việt Nam sinh sống. Hiện nay chúng ta đang tích cực triển khai kế hoạch đưa chương trình VTV4 vào hệ thống truyền hình cáp ở một số địa bàn để giúp bà con tiếp cận dễ dàng hơn với phương tiện này. Chúng ta cũng đang nghiên cứu xây dựng đề án truyền hình qua mạng internet phục vụ cộng đồng.

Ngày 30/10/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 990/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ hỗ trợ, vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao (gọi tắt là Quỹ hỗ trợ cộng đồng). Quỹ hỗ trợ cộng đồng hoạt động không vì mục đích lợi nhuận sẽ góp phần quan trọng hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập vào xã hội và đất nước cư trú, giúp bà con ổn định cuộc sống, giữ gìn truyền thống dân tộc và hướng về quê hương.

Năm 2002 còn đánh dấu sự ra đời của Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, một tổ chức xã hội rộng mở làm cầu nối giữa những người xa quê với đồng bào trong nước. Hoạt động của Hội thân nhân kiều bào ở các địa phương trong nhiều năm qua góp phần làm cho tình cảm của những người ở quê nhà với những người đi xa càng thêm gắn bó.

Gần đây Bộ Ngoại giao đã ban hành Quy chế khen thưởng kiều bào có thành tích phát triển cộng đồng và trong xây dựng đất nước. Việc thực hiện Quy chế này sẽ góp phần động viên bà con tham gia tích cực và có hiệu quả hơn vào việc củng cố cộng đồng, hướng về cội nguồn và tham gia xây dựng quê hương.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần quan tâm nhiều hơn đến việc giải quyết những nguyện vọng bức xúc của kiều bào, nổi bật nhất là mong muốn được Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng khi bà con đang ở nước ngoài cũng như khi nhập cảnh về trong nước. Hệ thống luật pháp, chính sách cần đồng bộ, nhất quán, và đặc biệt cần được quán triệt và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc ở tất cả các ngành, các cấp, các địa phương, thể hiện đúng tinh thần coi đồng bào ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của dân tộc, thu hẹp và tiến tới xoá bỏ sự phân biệt đối xử trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; khuyến khích trí thức kiều bào về nước hợp tác và đóng góp bằng những chính sách thực sự cởi mở, thông thoáng. Cần tạo mối giao lưu bình thường về văn hoá giữa cộng đồng và đất nước; đầu tư hỗ trợ nhiều hơn nữa về chính sách, biện pháp, kinh phí để chuyển tải thông tin và các sản phẩm văn hoá, nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài phục vụ cộng đồng, giúp cộng đồng giữ gìn và phát triển tiếng mẹ đẻ. Nên cho phép một cách rộng rãi những người nguyên là quan chức cao cấp của chế độ cũ được về thăm gia đình, quê hương, tạo thuận lợi cho kiều bào trong việc sửa sang lại mồ mả của thân nhân là binh lính chế độ Sài Gòn cũ chết trận, tạo điều kiện tăng thêm sự hiểu biết về chế độ ta.

***

Cùng với sự phát triển của công cuộc đổi mới ở trong nước, nhiều bà con ta ở nước ngoài đã về thăm quê hương, nhất là trong các dịp lễ, tết. Ngày càng nhiều kiều bào tham gia tích cực vào các hoạt động văn hoá - xã hội do các cơ quan ở trong nước cũng như cơ quan đại diện ta ở nước ngoài tổ chức. Tại hầu hết các nước có đông kiều bào sinh sống như Pháp, Lào, Căm-pu-chia, Thái Lan, Ô-xtrây-lia, Nga, Mỹ, Ca-na-đa, Anh, Đức, Bỉ và các nước Đông Âu, đông đảo bà con đã đến các cơ quan đại diện ta tham dự các cuộc gặp mặt mừng Xuân. Ở trong nước, kiều bào về quê đón tết luôn nhiệt tình tham dự các buổi gặp mặt thân mật truyền thống đón mừng Xuân mới của các cơ quan Nhà nước ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác; tổ chức các đoàn đến chào và chúc Tết các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

Cộng đồng ở hầu khắp các địa bàn đều tích cực hưởng ứng phong trào quyên góp từ thiện nhân đạo hướng về quê hương. Năm 2002, số tiền do kiều bào gửi về nước giúp đỡ đồng bào các vùng bị lũ lụt, thiên tai... lên tới hàng tỷ đồng. Hàng trăm triệu đồng khác được bà con quyên góp trong "ngày vì người nghèo" do Mặt trận Tổ quốc phát động. Bà con cũng giúp đỡ kinh phí xây dựng trường học, trạm thủy lợi... ở nhiều địa phương; cung cấp thiết bị y tế, thuốc men... trị giá hàng chục nghìn USD cho một số bệnh viện lớn và trạm y tế xã; thực hiện nhiều dự án hỗ trợ cựu chiến binh, trẻ em khuyết tật, có hoàn cảnh khó khăn...

Hoạt động đầu tư của kiều bào ở trong nước tiếp tục tăng. Đến nay đã có 65 dự án đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài với tổng số vốn khoảng 440 triệu USD và 700 dự án đầu tư theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước với tổng số vốn khoảng 1.000 tỷ đồng. Kiều bào còn tham gia đầu tư thông qua người thân ở trong nước với tổng số vốn ước tính hàng tỷ USD. Một số bà con đầu tư tương đối lớn, góp phần cải thiện đáng kể tình hình kinh tế của các địa phương.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, lượng kiều hối của người Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi về nước năm 2002 đạt 2,2 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2001 và tăng gấp đôi so với năm 1999. Tốc độ tăng kiều hối trung bình trong thời kỳ 1991-2001 là 48,5% mỗi năm. Số liệu này chưa bao gồm lượng tiền do bà con mang theo trong những chuyến về thăm quê.

Các doanh nghiệp của người Việt cũng góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với Nga và các nước Đông Âu. Tổng giá trị xuất khẩu của nước ta theo con đường này mỗi năm lên tới 200 triệu USD.

Đáng chú ý là hằng năm có khoảng 200 lượt trí thức kiều bào từ các nước Đức, Pháp, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, Mỹ... về nước làm việc với các trường đại học, viện nghiên cứu. Tháng 9/2002, tiến sỹ Nguyễn Chánh Khê, tác giả của 31 bằng phát minh đăng ký ở Hoa Kỳ trong các lĩnh vực tổ chức và quản lý khoa học và kỹ thuật, đặc biệt là khoa học vật liệu công nghệ thông tin và chế tạo vi mạch, đã quyết định về nước sinh sống và làm việc.

Cũng cần nhấn mạnh sự tham gia ngày càng tích cực và sâu rộng của kiều bào vào các hoạt động chính trị của đất nước. Nhiều người có mặt ở trong nước vào ngày 19/5/2002 đã chủ động tham gia cuộc bầu cử Quốc hội khoá XI. Bà con cũng rất vui mừng tham dự những hoạt động lớn của các tổ chức chính trị - xã hội trong nước như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; một số kiều bào được bầu vào Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh...

***

Quán triệt tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài, những năm qua chúng ta đã đạt được tiến bộ đáng kể trong công tác vận động kiều bào phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và tạo điều kiện ngày càng thuận lợi cho bà con duy trì liên hệ với quê hương, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, để đáp ứng với tình hình mới, việc tiếp tục đổi mới công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài là cần thiết. Phấn khởi và tin tưởng vào những thay đổi tích cực của công cuộc đổi mới, các thế hệ kiều bào ngày càng quan tâm đến sự phát triển của đời sống mọi mặt ở trong nước, hướng về cội nguồn và tùy theo hoàn cảnh, khả năng của mình góp phần xây dựng quê hương.

Tình hình thế giới sau sự kiện 11/9/2001 trở nên phức tạp hơn, nạn khủng bố liên tiếp xảy ra đe dọa cuộc sống bình yên ở nhiều nơi. Nhiều người đã dự đoán số lượng kiều bào về nước sẽ giảm. Tuy nhiên, theo thống kê ban đầu, năm 2002 có từ 380 đến 400 nghìn lượt kiều bào về thăm quê hương, trong đó 180 nghìn người về trong dịp Tết Nhâm Ngọ. Tết Quý Mùi năm nay cũng là dịp để bà con ta ở trong nước và ở nước ngoài gặp lại người thân, bạn bè trong không khí thiêng liêng truyền thống ở quê nhà, cùng chia sẻ niềm vui trước thành tựu của sự nghiệp đổi mới và trong sự gắn bó nặng tình đồng bào của con cháu Rồng Tiên.

 


Các tin khác

noData
Không có dữ liệu

Tin tiêu điểm