Tin mới nhất
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài và những bài học thực tế

Bài viết của Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phú Bình, Chủ nhiệm Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài cho Tạp chí Cộng sản số 2/2005

Cách đây hàng trăm năm đã có người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống. Lịch sử còn ghi lại vào thế kỷ thứ 12 con cháu họ Lý đã sang Hàn Quốc lập nghiệp. Thế kỷ 17 có người Việt Nam sang làm ăn tại Cămpuchia. Thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ 19 người Việt sang lánh nạn và làm ăn tại Campuchia, Lào, Thái lan, Trung Quốc.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, một số người Việt đi du học, làm công chức tại Pháp hoặc bị động viên đi lính, phu tại một số thuộc địa của Pháp. Trong thời kỳ chiến tranh, có thêm một số người ra đi lánh nạn, kiếm sống, theo chồng hồi hương hoặc đi tu nghiệp, du học ở nước ngoài. Tuy nhiên, trước năm 1975 số lượng người Việt Nam ở nước ngoài không lớn khoảng 16 -20 vạn người ở 10 nước, phần đông số này có tư tưởng sinh sống tạm thời, chờ điều kiện thuận lợi trở về nước.

Từ sau năm 1975, đã có sự thay đổi sâu sắc về số lượng, thành phần, tính chất cũng như địa bàn sinh sống của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Số người ra đi (di tản trước 4/1975, vượt biên trong các năm 1978 – 1980, theo chương trình ra đi có trật tự và các chương trình nhân đạo 1980 -1996) đã lên tới khoảng 2 triệu người, chủ yếu tới Mỹ, Ôt-xtrây-lia, Canada, Nhật Bản, các nước Tây và Tây Bắc Âu... Thêm vào đó sau năm 1980, một số khá đông sinh viên, thực tập sinh và lao động Việt Nam ở các nước XHCN Liên xô, Đông Âu cũ ở lại làm ăn.

Đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển (Hoa kỳ khoảng 1,3 triệu người; Pháp, Ôt-xtrây-lia mỗi nước khoảng 250 nghìn; Ca-na-đa  200 nghìn; Căm-pu-chia, Thái Lan, Đức, Nga – mỗi nước khoảng 100 nghìn; Đài Loan 65 nghìn; Anh 35 nghìn; Séc 25 nghìn; Lào 18 nghìn; Trung Quốc, Ba Lan, Bỉ, Thuỵ Điển – mỗi nước trên dưới 10 nghìn...).  Phần đông bà con ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị - xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua hàng trăm nghìn người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình, hình thành các cộng đồng người Việt Nam tại một số địa bàn mới như Hàn Quốc, Đài loan, Nhật bản, Malaysia... 

So với các cộng đồng thiểu số khác, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hoà nhập và đại đa số có xu hướng định cư lâu dài ở nước sở tại chủ yếu là Mỹ,  Ôt-xtrây-lia, Canada các nước Tây Âu (khoảng 80% đã nhập quốc tịch nước cư trú nhưng hầu hết chưa thôi quốc tịch Việt Nam), trong khi phần lớn người Việt tại Nga, Đông Âu vẫn coi cuộc sống là tạm cư, khi có điều kiện sẽ trở về nước. Tuy nhiên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng phức tạp về thành phần xã hội, xu hướng chính trị và đa dạng về nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc, đặc biệt bị chi phối, phân hoá bởi sự khác biệt về giai tầng, chính kiến và  hoàn cảnh ra đi cũng như cư trú ở các địa bàn khác nhau. Chính vì vậy, tính liên kết, gắn bó trong cộng đồng không cao; cộng đồng sinh sống phân tán, sinh hoạt cộng đồng có khó khăn, việc duy trì tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống đang là thách thức lớn đối với tương lai của cộng đồng.

Dù được coi là thành đạt nhanh ở Mỹ và phương Tây, tiềm lực kinh tế của cộng đồng còn hạn chế, thu nhập bình quân đầu người nhìn chung thấp so với mức bình quân của người bản xứ (55% người Việt có cuộc sống ổn định, nhiều người vẫn phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội). Trong khi đó, tiềm lực chất xám, trí tuệ của cộng đồng khá lớn, nhất là ở phương Tây, Nga, Đông Âu. Hiện ước tính trong cộng đồng  người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 300.000 người (một số tài liệu nêu 400.000 người, con số này cũng chỉ ước đoán, chưa có điều tra cơ bản chính thức) được đào tạo  ở trình độ đại học, trên đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, khoa học và công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó  có nhiều người đạt được vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh và các tổ chức quốc tế. Một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển tập trung ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Châu Đại dương ở  nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán...

Đáng chú ý là dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, cộng đồng luôn duy trì mối quan hệ gần gũi với quê hương đất nước, mong muốn đất nước phát triển và hội nhập quốc tế nhanh chóng. Tuy nhiên, có một bộ phận đồng bào do chưa hiểu đúng về tình hình đất nước nên còn có thái độ tiêu cực hoặc dè dặt đối với đất nước, thậm chí có một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc. Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức còn ít, chưa phản ánh đúng tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.                                                                                         

***

Phát huy truyền thống “lấy dân làm gốc”, của cha ông, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh :  “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”,  Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm tới công tác vận động quần chúng trong đó có công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài nhằm huy động mọi nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp cách mạng chung của toàn dân tộc. Chính vì vậy, công tác vận động đồng bào ta ở nước ngoài từ lâu đã được coi là một nhiệm vụ quan trọng, gắn liền với nhiệm vụ của các thời kì cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngay từ trước khi Đảng ta ra đời, chính lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sau đó, nhiều đảng viên và các vị lãnh đạo của Đảng đã vận động, xây dựng cơ sở cách mạng ở Pháp, Trung Quốc, Thái Lan và các nước khác với sự đùm bọc, chở che của bà con ta ở nước ngoài. Nhiều thế hệ cán bộ đầu tiên của Đảng đã đồng cam, cộng khổ cùng kiều bào, chia sẻ nỗi đau của dân tộc đang làm nô lệ, thắp sáng lên tinh thần cách mạng trong những người con xa xứ.

Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả ở trong và ngoài nước ủng hộ và bảo vệ chính quyền cách mạng, kêu gọi đồng bào ta ở nước ngoài phát huy tinh thần yêu nước tham gia kháng chiến. Nhiều bà con kiều bào tại Pháp đã tham gia phục vụ, bảo vệ phái đoàn Chính phủ Việt Nam dự Hội nghị  Fontainebleau, vận động dư luận Pháp ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Nhiều trí thức kiều bào đã theo lời kêu gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước tham gia kháng chiến như các giáo sư Trần Đại Nghĩa, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, ... Phong trào yêu nước của Tổng Hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan hoạt động rất mạnh, phối hợp chặt chẽ với trong nước. Hơn 6.000 Việt kiều Thái Lan tham gia trực tiếp kháng chiến trong lực lượng vũ trang tại mặt trận Lào.  Nhiều người đã hy sinh cho công cuộc kháng chiến chống Pháp bảo vệ nền độc lập của đất nước.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneva 1954 được kí kết. Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài tập trung vận động đồng bào tham gia các phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định, tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tại Pháp và nhiều nước kiều bào tham gia mít tinh, lấy chữ kí vận động nhân dân và dư luận sở tại đòi Mỹ - Diệm thi hành Hiệp định, chống đàn đáp những người kháng chiến. Nhiều trí thức kiều bào chuẩn bị hồi hương đem kiến thức và tài sản tích lũy được về góp phần xây dựng đất nước thống nhất.

Ngày 23/11/1959, Ban Việt kiều Trung ương được thành lập đánh dấu mốc phát triển quan trọng của công tác vận động kiều bào. Đây là lần đầu tiên một tổ chức chuyên trách  của Chính phủ  được thành lập để vận động, hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi của bà con ta sinh sống ở nước ngoài, giúp Chính phủ theo dõi công tác về người Việt Nam ở nước ngoài. Nhiệm vụ của công tác vận động cộng đồng  thời kỳ này là đón tiếp kiều bào yêu nước ở Thái Lan, Tân đảo và một số nơi khác hồi hương, đồng thời tiếp tục vận động kiều bào xây dựng cơ sở nòng cốt của phong trào Việt kiều yêu nước ủng hộ kháng chiến chống Mỹ.  Nhiều thành viên của phong trào sinh viên phản chiến đã trở thành nòng cốt của phong trào Việt kiều yêu nước sau này ở Mỹ, Pháp, Bỉ, Canada...có quan hệ chặt chẽ với trong nước. Các tổ chức người Việt ở một số nước láng giềng  tham gia vào các hoạt động nuôi giấu cán bộ, ủng hộ kinh tài, cho con em về tham gia chiến đấu. Kiều bào ta tại  Pháp  đã hỗ trợ cho phái đoàn Việt Nam tham gia Hội nghị Paris về tinh thần, vật chất và nhân lực...

Tiếp theo đó, Ban Việt kiều Trung ương trở thành đầu mối tổ chức, phối hợp, vận động kiều bào đấu tranh cho hoà bình, thống nhất đất nước, xây dựng các phong trào Việt kiều yêu nước đi đầu trong việc vận động nhân dân các nước sở tại và bạn bè khắp năm châu hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta.

Từ sau năm 1975, công tác vận động cộng đồng tập trung huy động kiều bào tham gia vào công cuộc khôi phục, xây dựng và bảo vệ đất nước; đồng thời, chống bao vây cấm vận và âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Các Hội Việt kiều yêu nước tại nhiều nước phát triển mạnh thu hút đông đảo kiều bào tham gia. Nhiều trí thức Việt kiều đã về nước trao đổi, giảng dạy, giới thiệu công nghệ mới. Nguồn kiều hối, hàng hoá do kiều bào gửi về đã góp phần giảm bớt những khó khăn trong nước. Nhưng cũng trong thời gian này, các Hội Việt kiều cũng gặp không ít khó khăn do sự chống phá quyết liệt của lực lượng phản động người Việt. Vào những năm cuối thập kỷ 80, do ảnh hưởng của tình hình Liên Xô và Đông Âu, phong trào Việt kiều có sự rạn nứt, ở một số nơi, hội kiều bào tự giải tán. Tuy nhiên, xu hướng gắn bó và hướng về Tổ quốc vẫn không ngừng phát triển, nhiều hình thức tập hợp mới của kiều bào ra đời  với các hoạt động phong phú và đa dạng.   

Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài gắn liền với nhiệm vụ phát huy sức mạnh của toàn dân tộc phục vụ cho sự nghiệp  xây dựng và bảo vệ đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Đây cũng là thời gian mà bộ máy tổ chức cũng như chức năng của Ban Việt kiều Trung ương được kiện toàn. Tháng 7/1994 sau Nghị quyết 08-NQ -TW của Bộ Chính trị, Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài được thành lập thay thế cho Ban Việt kiều Trung ương và tháng 11/1995 Chính phủ đã ra Nghị định số 77/ CP đặt Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao.  

Từ đó đến nay, phát huy truyền thống, tiếp tục phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao, Ủy ban về người Việt Nam  ở nước ngoài với đặc thù công tác vừa mang tính quản lý hành chính nhà nước vừa là công tác vận động quần chúng đã tham mưu cho Đảng và Nhà nước về những chủ trương, chính sách được ban hành có liên quan đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là Nghị quyết 36 – NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cũng như Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 36.  

Nghị quyết có ý nghĩa rất to lớn đối với công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, trước hết  là thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với công tác này và khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng  luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời, một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam; thứ hai là cơ sở chính trị, pháp lí cho việc kiện toàn bộ máy, cơ chế phối hợp trong xây dựng và thực thi các thể chế pháp luật nhằm thúc đẩy công tác về người Việt Nam ở nước ngoài; thứ ba là góp phần tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy trong cộng đồng lòng yêu nước, tự hào dân tộc cùng chung sức xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hùng cường, một  xã hội công bằng, dân chủ và văn minh; thứ tư, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và các nước, củng cố vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.  

Đồng thời, Uỷ ban cũng đã  phối hợp với nhiều cơ quan liên quan ban hành và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách mới theo hướng tạo thuận lợi cho bà con ngày càng gắn bó với quê hương đất nước, từng bước tạo bình đẳng giữa đồng bào ta ở nước ngoài như đồng bào trong nước, đáp ứng những nguyện vọng chính đáng và lợi ích hợp pháp của bà con, làm cho  cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đang có những chuyển biến tích cực, ngày càng tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới cũng như hội nhập quốc tế của đất nước.   

Kết quả của công tác vận động đã thể hiện rất rõ qua việc những năm gần đây số bà con ta ở nước ngoài về nước thăm thân, du lịch, về đầu tư, đóng góp đã lên gần 400.000 lượt người mỗi năm. Lượng kiều hối gửi về nước năm 2003 đạt gần 2,7 tỷ USD, có thể đạt trên 3 tỷ USD trong năm 2004. Đầu tư của kiều bào theo Luật đầu tư nước ngoài đạt 540 triệu USD, theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước đạt khoảng 2.500 tỷ đồng VN. Hàng trăm lượt kiều bào đã về nước đóng góp tri thức, chuyển giao công nghệ.   

Bộ máy công tác của Uỷ ban ngày càng được củng cố. Năm 2003  Quỹ Hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được thành lập và đi vào hoạt động đã và đang có những đóng góp hiệu quả cho công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài.

Vì những thành tích, đóng góp của nhiều thế hệ cán bộ trong 45 năm kể từ ngày thành lập, Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài đã vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng  Huân chương Độc lập hạng nhất (năm 1999) và  Huân chương Lao động hạng nhất (năm 2004).      

***

Trải qua thời gian gần một thế kỷ, công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài đã có một  thực tiễn hết sức phong phú, đã kinh qua những bước phát triển lúc thăng lúc trầm, gắn liền với các nhiệm vụ cách mạng của từng thời kỳ. Qua quá trình phát triển đó, chúng ta có thể rút ra những bài học thực tiễn sau:   

Thứ nhất, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và đại đoàn kết dân tộc, tăng cường mối liên hệ gắn bó giữa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với cộng đồng dân tộc là nhân tố quyết định đối với thắng lợi của công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ hai, thể chế hoá các chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài  bằng các chính sách cụ thể tạo cơ sở pháp lí cũng như cơ chế tổ chức, phối hợp thực hiện để sớm đưa các chủ chương chính sách đi vào cuộc sống. 

Thứ ba, đổi mới các hình thức vận động phù hợp với sự phát triển của tình hình trên cơ sở xây dựng, củng cố và phát triển các nhân tố, tổ chức nòng cốt trong cộng đồng.

Thứ tư, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những yếu tố đem lại thành công cho công tác vận  động người Việt Nam ở nước ngoài. 

Thứ năm, có chính sách động viên khen thưởng kịp thời nhằm tạo động lực thi đua yêu nước, hướng về Tổ quốc của người Việt Nam ở nước ngoài. 

Thứ sáu, vận động người Việt Nam ở nước ngoài gắn liền với công tác vận động thân nhân của họ ở trong nước. 

Thứ bảy, tăng cường vai trò của cơ quan chuyên trách, cơ quan đại diện ngoại giao trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. 

Thứ tám, kết hợp chặt chẽ vận động và đấu tranh, đấu tranh chống lại thế lực đi ngược lại lợi ích của dân tộc, đất nước.

Thứ chín, tăng cường năng lực, phẩm chất đội ngũ cán bộ làm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ mười, công tác vận động cộng đồng  người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội, trong đó chính quyền có vai trò quan trọng đặc biệt.

***

Đảng và Nhà nước ta luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời, một nguồn lực của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Công tác vận động đối với người Việt Nam ở nước ngoài luôn được xác định là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong hệ thống công tác dân vận của Đảng và Nhà nước phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong tình hình mới, công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới để thực hiện tốt nhiệm vụ là bảo hộ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cộng đồng, động viên bà con phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, ổn định, phát triển cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại và làm cầu nối hữu nghị cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước; đồng thời, tạo thuận lợi để bà con duy trì bản sắc văn hoá, truyền thống dân tộc, tăng cường các mối quan hệ, giao lưu gắn bó với trong nước. Trước thực tế là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hình thành trong giai đoạn đất nước trải qua chiến tranh, chia cắt hoặc đứng trước những thử thách to lớn của lịch sử nên hoàn cảnh và lý do ra đi rất đa dạng và phức tạp, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là : lấy mục tiêu độc lập dân tộc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, chấp nhận những điểm khác nhau miễn là không trái với lợi ích chung của dân tộc, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai; mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, nguồn gốc xuất thân, lý do ra nước ngoài, hễ ai mong muốn đóng góp vào mục tiêu trên thì đều có chỗ đứng trong khối Đại đoàn kết dân tộc. Từ đó, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tiềm lực kinh tế và chất xám của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, góp sức cùng đồng bào trong nước tạo ra động lực mạnh mẽ và vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng đất nước ta “ to đẹp hơn, đàng hoàng hơn “ như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng dạy.

 


Các tin khác

noData
Không có dữ liệu

Tin tiêu điểm