81 năm Quốc khánh 2/9: Chủ tịch Hồ Chí Minh trường tồn cùng dân tộc
81 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách của Người vẫn là nền tảng tinh thần, tiếp sức cho dân tộc trên hành trình xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

“Người về đem tới ngày vui/ Mùa Thu nắng tỏa Ba Đình/ Với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời…” (“Ca ngợi Hồ Chủ tịch” - nhạc sỹ Văn Cao).
81 năm trước, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt quốc dân đồng bào đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong suốt chiều dài lịch sử của cách mạng Việt Nam, mỗi thắng lợi, mỗi bước đi lên đều gắn liền với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta và bạn bè quốc tế.
Người đã hiến dâng trọn đời cho độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân
Để có Ba Đình tỏa nắng mùa thu, ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồng, ra đi tìm đường cứu nước với khát vọng cháy bỏng “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1975, tr 5,6).
Trong hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, bàn chân của Người đã in dấu trên nhiều nước thuộc các châu lục Âu, Á, Phi đến Mỹ latinh, trong một không gian rộng lớn đa sắc màu; trong một thời gian dài rộng đầy biến cố lịch sử.
Và hành trình này đã giúp Người hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp. Vì thế, Người đã đến với chủ nghĩa Marx-Lenin một cách tự nhiên, như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Với trí tuệ thiên tài, tầm nhìn vượt thời đại, Người vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, dày công chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ cho sự ra đời một đảng cách mạng chân chính - Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tạm biệt đất nước ra đi từ một thành phố phía Nam, 30 năm sau, ngày 28/1/1941, Người trở về Tổ quốc ở vùng núi cao phía Bắc, tại xóm Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng. Người trở về mang theo con đường giải phóng, con đường cách mạng, độc lập cho dân tộc, tự do cho giống nòi.
Tháng 8/1945, với tư duy chính trị nhạy cảm và sắc bén, dự báo chính xác, phân tích kịp thời và thấu đáo tình hình trong nước và quốc tế, nhận rõ thời cơ cách mạng đã chín muồi, Người nêu quyết tâm “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập” (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, t2, tr.256).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã vùng lên phá tan gông xiềng nô lệ hơn 80 năm của chế độ thực dân, xóa bỏ chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một thời đại mới rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc - Thời đại Hồ Chí Minh.
Ngày 2/9/1945, cả Thủ đô Hà Nội bừng sáng, khắp mọi nẻo đường, con phố đều rực rỡ cờ, hoa và biểu ngữ. Từng dòng người hớn hở, tươi vui từ các ngả đổ về Ba Đình để dự ngày lễ thiêng liêng nhất của dân tộc trong lịch sử Việt Nam hiện đại.
Trước hàng chục vạn đồng bào, trên lễ đài, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc.
Nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Vị thế và quyền của dân tộc Việt Nam, "một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Ðồng minh chống phátxít mấy năm nay" (trích Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tập 4, tr. 2, 3) đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập" (trích Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tập 4, tr. 2, 3).

Trong đoạn cuối của bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (trích Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tập 4, tr. 2, 3).
Và những gì diễn ra trong suốt nhiều thập kỷ sau đó đã chứng minh cho lời khẳng định trên của Người. Cùng với Trung ương Đảng, Người đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù.
Người đã khắc ghi vào lịch sử dân tộc những mốc son sáng chói trong các cuộc đấu tranh đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập cho tổ quốc, bảo vệ tự do và hạnh phúc cho nhân dân.
Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”; là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, vững bước tiến trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Có thể thấy, ý chí cứu nước, giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân là tinh thần chủ đạo, xuyên suốt cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, đúng như Người đã bộc bạch: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc cho quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó…” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.272); hay “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 4, tr.187).
Cho đến phút cuối đời Người vẫn canh cánh “nỗi lo dân nước, nỗi năm châu”, trong bản Di chúc Người căn dặn “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.15, tr.622).. Ngay cả việc hậu sự của mình, Người cũng chỉ nghĩ đến dân, đất nước: “Chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.15, tr.623).
Trong Di chúc ở những dòng cuối cùng, Người ra đi không có gì phải hối hận vì đã sống hết mình, đã phục vụ hết mình cho dân, cho nước. Người chỉ có điều tiếc nuối, "không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa" (Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.15, tr.623).
Tâm nguyện của Người, điều mong muốn cuối cùng của Người ký thác vào toàn dân, toàn Ðảng là "một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới." (Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.15, tr.624)
Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho Cách mạng Việt Nam
Không chỉ là Lãnh tụ vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặt nền móng vững chắc cho tương lai của đất nước bằng hệ thống tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách của mình.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa tư tưởng nhân loại.
Từ mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát triển văn hóa, con người đến quan điểm về đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển..., tất cả đều được hình thành trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Ảnh: Tư liệu TTXVN
Giá trị đặc biệt của hệ thống tư tưởng ấy không chỉ nằm ở tính khoa học và cách mạng, mà còn ở khả năng "soi đường" cho hành động, giải quyết những yêu cầu của thực tiễn và không ngừng được bổ sung, phát triển cùng sự vận động của đất nước.
Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức và tư tưởng thống nhất hài hòa trong một phong cách sống giản dị, khiêm tốn mà vô cùng cao thượng. Cả cuộc đời, Người sống thanh bạch, khiêm nhường.
Chính bởi đạo đức trong sáng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một tấm gương sống động và cụ thể cho các thế hệ học tập và làm theo. Những phẩm chất "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" mà Người dạy không chỉ là lý tưởng để mỗi cán bộ, đảng viên noi theo mà còn trở thành chuẩn mực cho mọi người hướng tới.
Người nhấn mạnh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (Hồ Chí Minh: Sđd, t.15, tr. 672)).
Điểm nổi bật trong phương pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn lấy thực tiễn làm điểm xuất phát và lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Những chỉ dẫn đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị, bởi trong bất kỳ lĩnh vực nào, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện, nếu không xuất phát từ thực tiễn thì rất khó tìm được lời giải đúng.
Còn phong cách của Người thể hiện ở sự dân chủ, khoa học, nêu gương, sâu sát cơ sở và hết lòng phụng sự nhân dân. Sự giản dị, chân thành, cách ứng xử ân cần, gần gũi đã khiến Bác trở thành một Lãnh tụ đặc biệt, luôn sống mãi trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.

Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ 20, mà còn tiếp tục "soi sáng" công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ 21.
Thực tiễn thành tựu của 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước khẳng định giá trị to lớn của di sản Hồ Chí Minh. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời đổi mới tư duy phát triển, phát huy nội lực, chủ động hội nhập quốc tế, đất nước ta đã vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội, duy trì ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống Nhân dân và không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại.
Từ một quốc gia nghèo, lạc hậu sau chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, nằm trong nhóm nền kinh tế có quy mô lớn ở khu vực, là mắt xích quan trọng trong nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu và là đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện sức sống mạnh mẽ trong quá trình xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Quan điểm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; coi cán bộ là "cái gốc của mọi công việc"; lấy dân làm gốc; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân... vẫn là những nguyên tắc có ý nghĩa nền tảng trong hoạch định chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, những giá trị đó càng cho thấy ý nghĩa thời sự sâu sắc.
Chính từ giá trị trường tồn của di sản tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, việc học tập và thực hành theo Bác luôn được Đảng xác định là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Ảnh: TTXVN phát
Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" xác định nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên là: "Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên."
Đây không chỉ là sự kế thừa tư tưởng của Người mà còn là yêu cầu của thực tiễn. Khi việc học tập được chuyển hóa thành hành động, hiệu quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân, những giá trị trong di sản Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục trở thành nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững
Với hành trình 79 mùa Xuân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta và dân tộc ta, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân cho đến hơi thở cuối cùng. Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách của Người là nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.
Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định trong bài viết "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi": “Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ Nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của Nhân dân.
Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn."/.
(Theo TTXVN/Vietnam+)





















