Ngựa về đường Bưởi
Thầy đồ thử tài học sinh của mình, ra một vế đối:
- Kiến đậu cành cam, bò quấn quít.
Thầy dùng tiểu xảo: có cam lại có quít. Chữ quít vừa là tiếng đệm, lại vừa là tên cây. Cả đám học trò loay hoay nghĩ mãi chưa ra thì chú bé hầu trà của thầy đồ đã chắp tay:
- Thưa thầy con xin đối.
Cả thầy đồ và đám học sinh đều ngạc nhiên. Thầy đồ bảo:
- Phải học luật thơ, luật phú mới đối được chứ. Con có học gì đâu? Nhưng thôi được, cho con cứ đọc.
- Thưa thầy và xin phép các anh ở đây, con xin đối là:
- Ngựa về đường Bưởi, chạy lanh chanh.
Gần như giật mình, thầy đồ đập tay xuống chiếu:
- Giỏi lắm! Giỏi lắm! Rất hay, rất chỉnh.
Thầy bảo với cả lớp:
- Các anh thấy chưa? Cam quít đối với bưởi chanh. Hay lắm. Mà ý tứ lại khoáng đạt hào hùng hơn câu ra. Các anh nên nhớ lấy.
Thầy quay lại chú bé:
- Nhưng sao con lại nói đường Bưởi? Đường Bưởi ở đâu?
- Thưa thầy tha lỗi. Con nói đường Bưởi là vì con nghĩ đến quê con. Con ở làng Bưởi Nồi, tức là Đại Bái.
Chú bé nói đúng. Chú tên là Phạm Hoảng, quê ở Đại Bái (nay thuộc huyện Gia Lương, Bắc Ninh). Chú vốn theo nghề gò đồng của làng này. Một hôm, khi gò mảnh dát, chú lỡ đập búa vào chân. Đau quá, chú bực mình vứt đe xuống ruộng bỏ đi ở, hầu trà nước cho thầy đồ. Hàng ngày, nhập tâm lời giảng của thầy, lời kể của sách, lời đọc bài của học sinh, mà chú được mở mang trí tuệ.
Thấy chú bé có khiếu, thầy đồ và nhà chủ đã giúp đỡ cho chú học tập. Sau này, Phạm Hoảng đã thành công rực rỡ. Ông đỗ Hoàng giáp đời Mạc (1535), đồng khóa với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hôm vinh qui về làng, làng không dám nhận. Ông Hoàng giáp phải ra đám ruộng, mò lấy hòn đe mình đã vứt xuống để chứng minh với dân làng rằng chính mình quê ở Bưởi Nồi, Đại Bái.
(Theo Vũ Ngọc Khánh- Kho tàng Giai thoại VN)











