Tết nhà quê
|
|
Năm ấy, tôi còn nhỏ, Chính phủ Lâm thời mới ra lệnh “tiêu thổ kháng chiến” để khởi đầu cuộc chống Pháp đô hộ, bố mẹ tôi đã cho phá bỏ căn nhà số 26 phố Bờ Hồ, tỉnh lỵ Phủ Lý (nay là trụ sở Công ty Cơ khí tỉnh Hà Nam) để đem các cửa gỗ và cầu thang về quê ở Tiên Xá (nay là xã Tiên Nội, huyện Duy Tiên, Hà Nam). Và nhà tôi ở quê trở thành nơi tập kết của nhiều người.
Bởi nhà rộng, kín cổng cao tường, lại ở cuối làng Trì, nên gia đình tôi cho Ủy ban Hành chính huyện mượn căn nhà ngói 5 gian để lập văn phòng. Nhà cũng được giao cho ba người con nuôi thương binh mà tôi nhớ trong đó có hai người - anh Đô và anh Lai bị cụt một cánh tay, nhưng cánh tay còn lại anh có thể bưng cả mâm cơm. Gia đình tôi không phải để mấy anh chị lớn ở lại tỉnh lỵ coi nhà như mọi năm, nên tất cả đều tụ ở quê nhà. Chính lần Tết đó, nhà tôi được đoàn tụ khiến đến nay tôi vẫn còn ấn tượng việc chuẩn bị ăn Tết do mẹ tôi sắp xếp chu đáo mang tính truyền thống.
Chuẩn bị cây nêu và câu đối
Mới ngày 22 tháng Chạp, mẹ tôi đã cùng chị bếp đi theo đường sông máng lên chợ Lương để mua một bộ Khánh bằng đất nung có cả con cá, nậm rượu, mặt nghê… và bộ dây nhiễu ngũ sắc treo đầu cây nêu. Khi về, mẹ tôi đưa bộ Khánh và sấp nhiễu cho bác Canh điền mà chúng tôi thường gọi là bác Diệm, cũng là trong họ xa của dòng Đinh tộc trong toàn làng.
Tức thì, tôi thấy bác Diệm lấy con dao phay đi xuống dưới vườn. Bác đi tới, đi lui nhìn ngắm những cây tre vươn cao trong từng dãy quanh vườn, rồi bác bảo tôi, phải chọn một cây khá cao, thân hơi thon và đầu cây phải nhỏ, lóng dài và mềm thì nêu rủ trông mới đẹp. Lát sau, bác Diệm đã lựa được cây tre ưng ý, loại đặc ruột, vỏ dầy nên chịu đứng cao được. Thế là bác cúi xuống phát những lát dao rất mạnh, một loáng sau, cây tre đã ngả dần vào phía vườn và nằm dài trên đống mo nang. Sau khi dùng dao tỉa và vạt hết các cành con và mấu xong, bác nhìn mấy gốc tre còn dư mấy đoạn bèn chặt mấy khúc đem về, nói là để chèn gốc cho cây nêu vững.
Bác cũng lấy mấy lóng tre dư đó để chẻ và làm hai cái vòng và chẻ lạt, tết cuộn thừng nhỏ để đeo chiếc Khánh và mấy con vật vào cái vòng vừa đan, rồi còn đan thêm một chiếc cho năm dải nhiễu xanh, đỏ, tím, vàng và trắng rồi buộc chúng vào chiếc vòng còn lại.
Tối hôm ấy, bác Diệm cặm cụi đến khuya và sáng sớm hôm sau, khi chúng tôi ngủ dậy, đã nghe thấy những tiếng sành va vào nhau lanh canh với một âm thanh nhẹ nhàng, trầm bổng, cạnh những dải liễu mềm dịu dàng bay chậm rãi theo gió dưới cành ngọn nêu rủ cong như cần câu kéo cá. Nhưng cây nêu chỉ dựng được có hai ngày thì có lệnh phải hạ xuống vì có tin phi cơ Pháp sắp đến oanh tạc với tin truyền về hai câu thơ: “Phù Cừ, Tiên Lữ ra tro/ Hà Nam, Phủ Lý ăn no kẹo đồng”. Sau, mẹ tôi quyết định bỏ mấy dải nhiễu và di cây nêu xuống vườn cạnh mấy bụi tre để ngụy trang. Nên những tiếng lanh canh êm dịu không còn nghe thấy từ trong nhà, mà phải ra sau bức tường hoa mới nghe được.
Còn bốn đôi câu đối bố tôi đem về được dán ở tám cột trong nhà thờ, cạnh những bức câu đối bằng gỗ gụ, khảm xà cừ mà tôi không nhớ được vì viết tiếng Hán, nhưng nhờ bốn đôi câu đối giấy đỏ ấy mà gian giữa nhà thờ tổ tôi sang hẳn lên, mang đậm vẻ Tết.
|
|
Sắp sẵn thực phẩm
Sáng 27 Tết, mẹ tôi lại cùng chị bếp đi chợ Nguyễn. Chợ này không sầm uất như chợ Lương, nhưng nhiều loại rau quả, hoa và cả vàng mã, các con giống và tò he... Mẹ tôi mua cả một bao tải rau, lại cả lá dong về gói bánh chưng, còn lá chuối gói giò thì xuống dưới vườn cắt.
Sáng sớm 28 Tết, chúng tôi dậy sớm để xem anh Xã Nhượng mổ lợn. Anh Nhượng làm rất khéo và gọn, pha những phần thịt đâu ra đó. Anh cắt thịt làm nhân bánh chưng phải nói là chuyên nghiệp, các miếng đều nhau, phần nạc, phần mỡ, phần bì đều có; những phần thịt giã giò và làm nem anh đều chọn kỹ. Sau đó là đủ mặt các chị trong họ vào làm phụ, người rửa rau, người rửa lá ổi, lá sung gói thính, người lo lá dong, rang gạo, giã thính, đãi gạo, đãi đỗ tấp nập. Mẹ tôi đi xem khạp hành muối và dưa nén thì mấy anh thương binh đến xin giã giò. Mẹ tôi sợ mấy anh mệt vì giã giò là phải giã liên tục, ngưng tay là giò chảy nước, nhưng vì nể, đành để ba anh thương binh giã giò. Hóa ra các anh làm rất tốt, giò mịn và quánh.
Gần trưa thì mẹ tôi và bốn chị chuyên gói bánh chưng bắt đầu vào việc, bà gói không cần khuôn vì gói khuôn không chặt tay, bánh dễ bị nhão và khi ép, nước không ra hết, bánh dễ bị thiu và nát.
|
|
Trước đó mẹ tôi đã sắp sẵn hai mâm cơm cúng để thờ tổ. Lễ này thường gọi là cúng kiếu, trước lễ cúng chính thức vào ngày 30 Tết để đón các cụ và ông bà cùng các anh chị ruột tôi đã qua đời về phối hưởng. Trưa hôm đó, cả hơn 50 người ngồi chung như ăn một bữa cơm đoàn kết. Ông Phó Chủ tịch huyện cứ đòi “chị nội tướng” tức mẹ tôi tuyên bố lý do, nhưng mẹ tôi là người không nhiều chữ, tuy thuộc kinh Phật nhiều và nhớ gần hết cuốn truyện Kiều. Nể tình, mẹ tôi cũng ấp úng: “Thưa đây là ngày gần Tết, vui vì năm nay nhà ăn Tết chưa bao giờ đông bằng, lại có một số anh chị trên Ủy ban, còn là người trong họ cả và đây cũng là lần gia đình tôi đầu tiên ăn Tết có đầy đủ các cháu ở nhà”. Tiếp lời, ông Phó Chủ tịch cảm ơn bà đã thết anh chị em một bữa cơm cuối năm thịnh soạn.
Mọi người lạ nhất là khi bố tôi hỏi có ai muốn uống bia, chỉ có bốn người giơ tay nhè nhẹ. Bố tôi bảo người cháu đi xuống cầu ao và thấy bốn cọng dây thừng thì kéo lên và rửa sạch bốn chai mang lên. Đó là bốn chai bia cổ vàng, làm ở Sài Gòn, do một anh học trò ở làng Bèo biếu bố tôi.
Khi mở ra, bia cũng khá lạnh vì ngâm lâu dưới bùn. Tuy vậy, bố tôi bảo giá lạnh nữa thì ngon hơn, mà thôi có người ngồi ăn ngon là ngon rồi. Ông Phó Chủ tịch hỏi bố tôi là phải văn của cụ Tản Đà không? Bố tôi nói phải. Ông Phó Chủ Tịch khen: “Trí nhớ cụ giáo tốt thật đấy”. Bố tôi và ông nói chuyện có vẻ hợp. Trong lúc cánh đàn ông vẫn ngồi, thì các chị đã lo đi rửa bát, nổi lửa nấu bánh chưng, luộc giò, gói nem, xào thịt gói giò...
Chuẩn bị đón ông bà
Sáng 29 ngủ dậy, tôi đã thấy hai phản bánh chưng đang ép dưới những tấm ván dầy cộm, nhìn những chiếc bánh khô xếp thẳng hàng thật đẹp mắt. Lũ nhóc chúng tôi cũng được tám cái bánh chưng con. Các cây giò lụa, giò bì đã treo lên.
Hôm sau là đúng ngày 30 Tết, hai anh lớn của tôi đi ra chợ Lương mua mấy phong pháo đùng về, bố tôi lại được mấy người học trò chung nhau biếu bánh pháo cối, trông như cái tráp trầu. Các chị tôi và mấy người chị họ lại vào bếp nấu cỗ cúng chiền đón các cụ và Giao Thừa.
Mới thoáng mà đã đến trưa, sáu mâm cỗ cúng để chật trong nhà thờ, còn bốn mâm ở ngoài để sẵn. Bố tôi lại lên lễ và xin đón các cụ, ông bà và các anh chị tôi đã khuất sống khôn, chết thiêng cùng về ăn Tết với cả nhà và phù hộ cho gia đình, họ hàng làm ăn khá và khỏe mạnh. Và sau đó, lại ăn như hôm trước, nhưng lần này không có bốn chai bia, còn đồ ăn thì trịnh trọng hơn, có giò chả, nem thính nhắm rượu rất tuyệt, ai cũng khen nem làm vừa ăn, thịt tái đúng cỡ và thơm, bùi, lá ổi lựa cũng khéo, gói đẹp.
Bữa trưa hôm ấy không kéo dài, bởi sau đó ai cũng có việc, dọn dẹp và lo bầy biện nhà cửa cho gọn gàng; trong đó, nặng nhọc nhất là kéo mấy tầu cau khô xuống, mà cây lại cao cả hai chục thước tây. Tụi nhóc đòi leo mà mẹ tôi không cho và bảo đây là việc của người lớn. Tất cả được chín tầu, lũ chúng tôi có dịp chơi đua thuyền và kéo xe trên mảng sân gạch Bát Tràng ầm ĩ.
Lo đón Giao Thừa
Trước khi sẩm tối, theo tâm linh truyền thống, hai anh tôi đã lấy thùng vôi bột và rắc thành hình bàn cờ tướng, kiếm cung, dáo mác, tên… trên sân để cho ma quỷ biết ở đấy có ngăn nắp và vũ khí diệt chúng mà sợ, không dám vào.
Lúc đó, bố tôi đã ra đình chủ lễ cùng các lão ông và thanh niên để cúng Thành Hoàng và sau đó hưởng lộc; nhưng chiếc đầu lợn gọi là “thủ” thì dành để đem vào nhà tôi, vì bố tôi là Tiên Chỉ hàng Xã.
Có mấy lần, tôi ra đình xem bố tôi tế. Ông mặc đồ rất đẹp, trong lót áo dài trắng đệm áo the đen và bên ngoài khoác áo thụng bằng gấm tím, trên có thêu những chữ thọ nhiều mầu, đầu đội mũ cũng mầu tím, có thêu các hoa văn nhiều sắc, chân đi đôi hia cũng mầu tím, phía trước hia hình thang thêu chữ thọ và theo viền cổ hia chạy các đường chỉ thêu. Khi tế, bố tôi đứng trang nghiêm, hai bàn chân hơi xòe ra và bước đi thì đưa các ngón chân lên trước, rồi nhấc gót chân bước tới. Ông làm những thao tác theo nghi thức cổ truyền của làng và dâng những hoa quả, bánh trái lên ban thờ cùng vàng và tiền mã cúng Thành Hoàng để mong ngài phù hộ cho toàn dân trong làng được an vui, hạnh phúc và sống lâu.
Nay ngồi nhớ lại, tôi thấy đó là dịp để con người thêm tin tưởng trong tâm linh, và có dịp dân làng ngồi với nhau, chung mâm, chung bát chuyện trò qua lại tăng thêm mối quan hệ trong làng.
Bỗng chốc, giờ Giao Thừa đã đến, Ủy ban Huyện đã nhận được thư chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tỉnh gửi xuống. Ông Phó Chủ tịch cũng đọc trong lễ cúng Giao Thừa ở nhà tôi.
Một điều bất ngờ và vui là có một số khách ở xa đến chúc Tết Ủy ban và gia đình, có người từ huyện Lý Nhân, tức là quê của vua Lê Đại Hành cũng đến. Nhà tôi có mấy mâm cỗ cúng, mẹ tôi sai đem hâm lại mời các bác và các anh chị. Nhà lại ồn ào náo nhiệt, tiếng nói vọng tận giữa làng. Nhất là lúc bố tôi ở ngoài đình về, ông đốt bánh pháo cối từ ngoài ngõ.
Sáng Mồng Một, mọi người còn đang ngủ, mẹ tôi đã ra Chùa lễ để cúng dường sư trụ trì. Về nhà bà lại lo cỗ cúng và tiếp những người đến chúc Tết và mừng tuổi. Vào buổi chiều, tôi theo mẹ tôi xuống làng Ngò và làng Nhất để lễ bàn thờ bên nội.
Sau Tết đó, tôi ở lại quê mấy năm, rồi mẹ tôi cho tôi lên Hà Nội học trường Ngô Sĩ Liên ở phố Hàm Long và không lần nào được về quê nữa. Cả những năm sau này, cũng như khi ra hải ngoại, không bao giờ tôi được ăn một cái Tết như lần kể trên vào giai đoạn đầu của thời kỳ toàn dân kháng chiến - tin tưởng, đoàn kết, quý mến nhau và nhường cơm xẻ áo. Quả quá tuyệt vời!
Đinh Viết Tứ (Hoa Kỳ)














