Một nửa của thế giới người Việt tại Nga
Họ đến đây từ những con đường khác nhau. Đa số là những người sang hợp tác lao động từ hồi Liên Xô còn chưa tan rã và những người sang Nga bằng con đường du lịch rồi ở lại buôn bán, làm việc, sinh sống. Số rất ít chị em đến từ cơ quan nhà nước, cơ quan nghiên cứu khoa học, hoặc các chị em sang bằng con đường du học.
Đến nước Nga bằng những con đường nhất định, nhưng vào những thời khắc khác nhau, bản lĩnh mỗi người khác nhau, sự chuẩn bị để sống ở một nơi không phải mảnh đất thân thuộc của mình lại có nhiều biến động về chính trị, kinh tế cũng khác nhau nên phận mỗi nguời sướng - khổ cũng rất khác nhau.
Nếu nhắc đến hoặc dùng đến cái tên “quá trình phân hóa” thì quá trình phân hóa trong người Việt và trong thế giới phụ nữ Việt Nam ở Nga đã bắt đầu ngay từ những năm có phong trào sang Nga ồ ạt.
Đàn bà khó vượt qua được chữ tình. Chữ tình ở nơi xa quê này quí lắm. Mà cái gì quí thường phải trải qua, phải được gọt giũa bởi máu, nước mắt và sự kiếm tiền. Nói về nguyên nhân nỗi khổ của những người đàn bà Việt ở nơi đây chắc đầu tiên phải nói đến điều ấy.
Vì ở nước ngoài, ở Nga, đàn bà Việt Nam chiếm không được non nửa, nên họ được nghe nhiều lời có cánh, được chiều chuộng nâng niu, ít nhất là trong một số thời điểm, một số giai đoạn. Đàn ông đi sang đây dù chân chất đến đâu cũng thấm ít nhiều văn hóa Tây phương, cộng với bản năng yêu chiều phái đẹp, phái yếu, nên thông thường các chị, các em đều được hưởng những phút thăng hoa mà ở những nơi đất chật, đàn bà đông như ở nhà mình, có chị cả đời không được biết đến.
Tuy nhiên, vòng quay cuộc sống ở đây nhiều lần khắc nghiệt hơn đời sống trong nước. Thế nên các chị, các cô, các em được yêu nhiều, sướng nhiều thì khổ cũng không ít. Có người qua không ít lần đò, đò chắc ít, đò mục không hiếm, đò đi chẳng được đến giữa sông đã bị chìm cũng có.
Có chị sinh ra 3, 4 đứa nhỏ mà chẳng thấy mặt ông chồng nào, chẳng con nào của chị biết mặt bố đích xác của nó. Con có tồn tại trên đời này hay không, được bao nhiêu tháng, bao nhiêu tuổi, khỏe yếu, no đói, ấm lạnh ra sao – bố nó không hề biết. Chẳng phải nói, những người đàn bà ấy khổ lắm, khổ từ trong tâm đến đời thường.
Tiền đâu nuôi con bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Lấy đâu chỗ để dựa những ngày đông tháng giá, lúc túi rỗng, không việc làm, lúc ốm đau, cô đơn. Đàn ông nói chung, đàn ông Việt Nam mình nói riêng dù có xót cũng có mấy người chấp nhận được những người vợ, người bạn được yêu nhiều, yêu lộ liễu như thế.
Có chị ôm con nằm nhà ga xe lửa ở trung tâm Moscow hết mùa này qua mùa khác, công an Nga đuổi, chị vẫn lang thang ở đấy, chắc không biết làm gì, chẳng còn biết đi đâu. Đến khi chụp ảnh để làm giấy tờ đưa chị và các con chị về Việt Nam, mới vỡ lẽ ra rằng trên mặt mấy đứa con chị toàn đường nét của dân Trung Á. Dại rồi mới biết khôn làm sao đây!
Cũng có khi họ khổ vì tính toán không lại thời cuộc, làm ăn thất bát mà vẫn nặng chữ tình.
Có chị ra đến sân bay để về trục xuất vẫn vừa tùm hum che chiếc mũ cũ, vừa nấp sau lưng người tiễn chị về: “Che cho chị với, em ơi. Nhỡ chủ nợ thấy chị thì chị chết”. Năm xưa, hết thời hạn lao động, chị ở lại theo người ta ra chợ làm ăn. Nhận hàng “xu khôi” của chủ hàng để bán (hàng giao trước, thanh toán tiền sau), hàng vừa giao cho các mối tỉnh thì tiền mất giá, mối không trả tiền kéo theo việc chị không trả được nợ đã nhận vào mình, cũng không có vốn, có hàng để trụ lại bán hàng ở chợ Vòm, ở các chợ tại Moscow, nên chị trôi dạt về tỉnh xa làm nghề tráng bánh cuốn, làm giá.
Ấy vậy mà câu cuối trước khi về hẳn Việt Nam của chị là: “Em giúp chị nhé. Đưa ông ấy về Việt Nam hộ chị”. “Ông ấy của chị” ở đây là một anh đã có một vợ, hai con ở Việt Nam. Chị và anh ấy đã đùm bọc nhau sống 7 năm ở cái tỉnh xa Moscow nọ. Thỉnh thoảng chị vẫn gửi ít tiền cóp nhặt được về cho mấy đứa con anh, còn bản thân chị có được cái vé máy bay về nước là nhờ người bà con của chị gửi sang giúp. Bao nhiêu thăng trầm đã trôi qua cuộc đời người phụ nữ này, nhưng chị vẫn không mất đi sự chất phác trong tính cách của mình. Chị sợ thế chứ bây giờ chủ nợ có nhìn thấy chị thì cũng chẳng có ai nghĩ đến chuyện đòi tiền chị.
Ở đây có những câu chuyện cười ra nước mắt về cuộc đời của những chị, những em. Có chị hết đường buôn bán, thuê người trông đứa con nhỏ, còn chính chị ngày ngày ra bến xe điện ngầm xin tiền nuôi mình, nuôi con.
Kể vài chuyện như thế để những người đang sống trong vùng sáng, những người đang sống cuộc sống yên lành, bình thường thấy được, hiểu được nỗi khổ của người phải sống bên mảng tối, của những người đàn bà có trái tim mạnh hơn lý trí nhưng thất cơ lỡ vận. Chứ đại đa số phụ nữ Việt Nam ở Nga vẫn nền nếp cuộc sống, căn cơ, chịu thương chịu khó và điều quan trọng là phần lớn có được những thành công nhất định, không những nuôi được thân mình mà còn nuôi được các con, giúp đỡ được người thân ở quê nhà, dành dụm được cho tương lai.
Có người đi làm rau, làm thợ may, làm vú em, làm công việc nhà. Có chị vừa trông con cho nhà này, vừa nấu cơm cho nhà kia, vừa đẩy xe nôi vừa bán rau, xoay tròn như con vụ để kiếm tiền. Ở đây, chúng tôi vẫn được ăn bánh cuốn, bánh gai, bánh bèo, bún riêu, bún bò, bún mọc nhờ sự tảo tần, sáng tạo và khát khao kiếm tiền, đổi đời của các chị. Hàng tháng, các chị cũng kiếm được, dành dụm được vài ba trăm đô.
Có cả các chị đi làm thợ hồ, thợ xây. Sau vài năm, nhà nào cần sửa chữa đổi mới cũng gọi đến các chị. Có khi phải từ chối, cũng có khi phải trốn vì làm không kịp.
Đến các chợ bán lẻ của người Việt trước đây mới thấy hết được tính nhẫn nại của phụ nữ Việt Nam. Ở chợ bán lẻ thường không phải chuyển đổi hàng về mặt số lượng nhanh, nhiều như chợ bán sỉ. Bù lại phải ăn cơm nắm chờ đợi, chiêu khách. Các chị vẫn lặng lẽ đi tìm hàng mới, hàng đẹp về để… câu dầm, kiếm sống.
Có chị đi làm công nhân từ những năm 80 của thế kỷ trước, sau nhiều năm một mình vật lộn với thương trường, nhờ chịu thương chịu khó, giữ được lòng tin với khách hàng, với chủ hàng, chị cũng có cơ ngơi riêng cho con, cho mình. Một mảnh đất để xây nhà ở Việt Nam, một vài “công” ngoài chợ Vòm, một số vốn, số hàng và mấy đứa con trai có cơ nghiệp riêng là thành quả và niềm vui của chị. Trước những thông tin dày đặc về chuyện đóng cửa chợ Vòm vào tháng 7, cùng những khó khăn vì thiếu hàng, hàng chậm, chị vẫn đủng đỉnh, chậm rãi: “Nước nổi thì bèo nổi. Không được làm ở đây nữa thì về Việt Nam cũng chẳng sao. Nhưng tôi vẫn đang làm hàng đấy”.
Chị H. ở chợ 2000 cũng có thái độ tương tự. Chị ra đứng bán tại “công” cho chồng đi “đánh” hàng về. Hàng họ đã chậm đi nhiều, nhưng chị vẫn bình tĩnh lắm: “Chợ lớn như thế này nên chưa sợ bị “hỏng” hẳn, thế nào chủ chợ chẳng tìm được chỗ để di dời. Nói gì thì nói, vẫn buôn bán được, vẫn sống ở đây được. Bao nhiêu năm vợ chồng tôi kiếm ăn ở đây, không làm được lấy gì cho con ăn học. Mỗi tháng phải tiêu hàng nghìn đô chứ có ít đâu. Mà bây giờ có buộc phải về thì cũng đủ vốn để làm ăn nho nhỏ trong nước rồi”.
Đấy là nói về những người trực tiếp ra chợ bán hàng, đánh hàng. Ít người trong số họ biết tiếng Nga, may ra thì biết bập bõm nhờ quãng thời gian trước đây tiếp xúc với người Nga trong các nhà máy. Nhưng họ đánh giá sự thay đổi thị hiếu của người Nga rất nhanh do đã nhiều năm sống trên mảnh đất này, hàng ngày phải cọ sát, tìm tòi. Những người phụ nữ ấy cũng có những góc riêng, nỗi riêng, nhưng khi cần quyết định số mệnh, sự thành công của mình họ không thua cánh đàn ông. Đó là những yếu tố quyết định sự thành công và độ bền của họ trên đất nước này.
Tôi cũng đã gặp những người vợ của một số thương gia người Việt ở đây. Người ta vẫn nói rằng “Trong sự thành công của người đàn ông có bóng dáng của người phụ nữ”. Điều ấy đúng đến gần như tuyệt đối ở xứ này. Họa hoằn lắm mới tìm được một bà vợ thuộc đẳng cấp này ngày ngày chỉ làm mỗi việc đến thẩm mỹ viện, chải tóc, đánh móng tay, “buôn dưa lê” và lo chuyện ăn uống. Ở đây, chồng làm công việc của chồng, vợ cũng phụ trách một mảng trong công việc ấy, hoặc phụ trách một mảng riêng.
Họ có cái may mắn là vợ của những người thành đạt, nhưng trong sự thành đạt của các ông ở đây không chỉ có sự vun vén của các bà, mà còn có thành quả lao động đầu tư của các bà. Họ còn là chỗ dựa vững chắc cho các đấng ông chồng khi gặp cơn bĩ cực, nhưng khi có dịp để các gia đình gặp nhau, họ quây lại, toàn cánh phụ nữ, nói với nhau một cách không khách sáo, không màu mè, kiêu điệu về con cái, về những thất bại, thành công trong cuộc đời, thương trường. Trong khi ấy cánh đàn ông tếu táo, nghêu ngao, vui như tết vì có dịp gặp nhau.
Tôi gặp một cô gái, một người đàn bà trẻ thì đúng hơn, vì cô ấy trạc ngoài 30 tuổi, vợ một thương nhân tương đối thành đạt, cô đã có một bé gái xinh xắn, khoảng 7 tuổi. Cô ấy vừa nhận thêm một bằng đại học với chuyên ngành thiết kế thời trang. Bộ sưu tập được trình bày trong lễ tốt nghiệp của cô được ban giám khảo gồm những thầy, cô giáo rất nghiêm khắc đánh giá cao. Học bằng hai, nhưng cô tự nguyện đăng ký học đủ 6 năm như mọi sinh viên lần đầu bước đến ngưỡng cửa đại học.
Lý do là: em tự cảm thấy mình còn non quá trong chuyên ngành đã chọn. Tôi đã xem ảnh bộ sưu tập mà cô đã đầu tư rất nhiều công của vào. Tôi đã nghe cô say sưa nói về những ngóc ngách của nghề nghiệp cô đã chọn, cả nỗi băn khoăn của cô nữa: “Về làm việc trong nước hay ở lại làm việc ở đây?”.
“Về hay ở?” - vấn đề rất rõ, nhưng không dễ giải quyết đối với những người đi tìm miền đất hứa, không dễ trước thói quen sống đã hình thành qua nhiều năm. Ở những sân nhà, nơi tập trung nhiều người Việt, đã không còn nhiều tiếng trẻ Việt nô đùa, tiếng trò chuyện của các chị osin đưa trẻ em đi dạo, nhưng trên thực tế, phụ nữ Việt Nam ở nước Nga vẫn còn nhiều.
Ước mong và cố gắng để có một thế giới chỉ có những cô, những bà được no ấm, vui tươi, thành đạt là điều không tưởng. Chúng tôi chỉ mong những người phụ nữ có nhiệt huyết, có cùng môi trường sống nơi đây góp sức, góp tài để lấp bớt cái hố quá sâu giữa những mảnh đời, cái hố chứa sự hụt hẫng kiến thức và thông tin làm đen tối cuộc đời một số chị. Để những “phụ nữ bé bỏng” của chúng ta lớn lên ở nước Nga với tiếng cười trong trẻo.
Theo Vietnamnet











